Ý nghĩa tên gọi các loài hoa

Ý NGHĨA CÁC LOÀI HOA

HOA BƯỚM

Tên tiếng Việt : Hoa Bướm, Păng-xê, Tử La Lan
Tên tiếng Anh : Pansy
Tên tiếng Pháp : Pensée
Tên Latin : ViolatricolorBiệt danh : “Heartsease” – Sự thanh thản
Biểu tượng : Vật kỷ niệm

Ý nghĩa : Tương tư

Thông điệp : Nhớ về em (Thinking of You); Người đã chiếm giữ mọi ý nghĩ của tôi

Người ta thường gởi loài hoa này đến những người gần gũi và thân thiết nhất để nhắc nhớ đến nhau. Loài hoa này có những cánh phẳng xòe rộng, mượt mà như nhung, với nhiều màu sắc rực rỡ. Ngày nay, hoa Bướm thường được trồng trông vườn xuất xứ từ loài hoa Pansy dại, mà thi hào Shakespeare từng gọi ” Tình yêu vu vơ”. Người đời đã yêu mến đặc cho loài hoa này nhiều biệt danh khác nhau, nhưng nổi bật nhất có lẽ là Thanh Thản ( Heartsease), bởi vì người ta tin rằng nếu bạn luôn giữ bên mình những cánh hoa này thì bạn sẽ chắc chắn nhận được tình yêu của người mình yêu… ( chắc mình sẻ chạy ngay đi tìm hoa này để trong mình mới được )

Gửi tặng em hoa Păng-xê tươi trẻ
Vàng như ánh dương, tím tựa trời đêm
Kỷ niệm ùa về khúc hát dịu êm
Bằng ánh sáng rõ ràng và dào dạt
Những giấc mơ hoang những ngày tẻ nhạt
Tiếc núi vô bờ hoài niệm khôn nguôi
Với Păng-xê xin được nói cùng người
Hoa thanh thản một trái tim thi sĩ
Hoa khơi gợi một hướng về suy nghĩ
Hãy nhận và trao yêu quý ngọt ngào

HOA CÁT CÁNH

Thực vật hoc: cây hoa chuông lá tròn
Tên tiếng anh : Bluebell
Ý nghỉa: thủy chung
Cát cánh là một trong các loài hoa dại cứng cổi nhất, chúng thường trở lại một cách thủy chung năm này qua năm khác, và chúng củng mang ý nghĩa của sự bền bỉ là do khả năng tồn tại bền vững… Ở nơi hoang dả loài hoa này  phủ những tấm thảm xanh ngát màu da trời lên cánh rừng vào mỗi độ tháng Năm. Song, chúng sẵn sàng khước từ khi bị chiếm đoạt: những cánh hoa hình quả chuông lay động sẽ nhanh chóng rủ xuống một khi bị hái.
Tên nhóm Endymion lấy theo tên một chàng chăn cừu trẻ đẹp được nữ thần mặt trăng Selene đem lòng thương. Đây là một thiên tình ca đầy thơ mộng trong thần thoại Hy Lạp.
Selene yêu Endymion tha thiết. Endymion lại chẳng hề biết đến tình yêu ấy. Chàng chỉ ước mơ một điều là được trẻ đẹp mãi. Chấp nhận lời khẩn cầu của chàng, thần Zeus đã giáng xuống đôi mắt chàng một giấc ngủ triền miên. Selene được tin rất đổi buồn rầu. Nàng cưỡi cổ xe song mã, cổ xe có đôi ngựa trắng muốt như tuyết xuống trần gian. Nàng đến động Latmos huyền diệu, nơi Endymion đang chìm đắmtrong giấc ngủ vĩnh hằng. Selene ôm lấy chàng những chiếc hôn nồng ấm. Nàng đưa tay vuốt ve người chàng, nằm xuống bên chàng, nghe tiềng tim chàng đập và say sưa uống hơi thở nồng nàng của chàng. Và như thề, hàng đêm, khi bóng tối đả bao phủ trái đất, Selene lại mặc chiếc áo dài trắng muốt, trên mủ cài một lưỡi liềm, lặng lẻ uy nghi đi ngan qua bầu trời. Nàng hiền hòa tỏa ánh trắng bạc xuống trái đất. Khi đã đi khắp vòm trời, nàng lặng lẻ đến cái hang sâu với Endymion. Nàng cuối xuống bên chàng, vuốt ve chàng, nỉ non nhửng lời ân ái.
Năm tháng cứ trôi đi, Endymion vẩn ngủ triền miên còn Selene vẩn giữ mãi mối tình chung thủy, thầm lặng và tuyệt vọng ấy. Vì vậy, ánh sáng của nàng ban đêm chiếu xuống trần gian cũng đượm vẻ mơ màng, buồn bả. Hình như những mối tình thầm lặng và tuyệt vọng đều đẹp, đều êm ái, nhẹ nhàng và bàng bạc như ánh trăng nhưng đều có cái buồn man mác của nử thần Selene…
Hàng năm em trở lại
Trên sân vườn xanh tươi
Bao người qua hờ hững
Em vẩn dời nhớ nhung

CÚC DẠI
Tên tiếng Việt –    Tên tiếng Anh – Tên tiếng Pháp –     Tên Latin -
Hoa cúc kép : Daisy double – Paquerette double – Bellis hortensis – Affection

Hoa cúc đơn : Daisy single – Paquerette simple – Bellis simple – Innocence

Hoa cúc dại : Daisy wild – Marguerite des près – Bellis perennis – Do you love me ?

Ý nghĩa: thơ ngây

Cúc dại là loài hoa nhỏ thường mọc hoang, có những cánh trắng ngần, từ giữa tỏa ra như hình nan hoa quanh một nhụy vàng tươi. Trẻ em thường thích hái hoa cúc dại để kết thành bó hay xâu thành chuỗi. Ở Anh, cúc dại còn được gọi là Baby’s pet hay Bairnwort có nghĩa là hoa của trẻ em.Tên tiếng Anh – Daisy – của loài hoa này bắt nguồn từ một từ Saxon, day’s eye, có nghĩa là “con mắt ban ngày”, có lẽ vì hoa nở cùng với ánh sáng ban mai rồi khép lại những cánh trắng khi chiều xuống.

Theo thần thoại La Mã, bông hoa nhỏ bé này có nguồn gốc từ Belides, một trong các nữ thần chăm sóc các khu rừng. Một hôm, khi Belides đang nhảy múa với người yêu của mình là Ephigeus, cô đã lọt vào mắt xanh của Vertumrus, vị thần cai quản các vườn cây. Để bảo vệ cô khỏi sự săn đuổi này, Flora, nữ chúa các loài hoa, đã biến cô thành một đóa hoa cúc trắng.

Còn theo truyền thuyết của người Ailen cổ, hoa cúc trắng chính là linh hồn những hài nhi đã chết khi vừa mới sinh ra. Chúa rải hoa cúc khắp núi đồi và thảo nguyên, khắp trần gian để làm vơi đi nỗi buồn của những người cha mẹ ấy. Truyền thuyết giải thích tại sao daisy mang ý nghĩa sự trong trắng – ngây thơ.
Người ta tìm thấy rất nhiều hình những bông cúc trên gốm sư Ai Cập cũng như ở những nơi khác suốt vùng Trung Đông. Người Assyria dùng hoa cúc để chữa một số bệnh về mắt. Họ cũng tin rằng, nếu bạn nghiền hoa cúc và trộn chúng với dầu rồi quét lên tóc sẽ làm cho tóc muối tiêu đen trở lại.
Marguerite”-tên tiếng Pháp của hoa cúc, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là hạt ngọc trai “pearl”. Người ta nói rằng, St. Louis đã khắc hình hoa cúc cùng với hoa diên vĩ (fleur-de-lis) và thánh giá trên chiếc nhẫn của ông. Chiếc nhẫn này, theo lời nhà vua, tượng trưng cho tất cả những gì ông yêu quý nhất : tôn giáo, nước Pháp, và vợ ông – Marguerite.
Có một câu nói xưa của người Anh bảo rằng mùa xuân vẫn chưa đến cho tới khi bạn có thể đặt bàn chân mình trên 12 bông cúc. Họ cũng cho là, nếu bạn mơ thấy hoa cúc vào mùa xuân hay mùa hè thì tốt, nhưng nếu vào mùa thu hay mùa đông thì lại là điềm chẳng lành.

He loves me, he loves me not, he loves me…

Nếu một cô gái nhỏ nhắm mắt lại và hái một chùm cúc dại rồi đếm thì số hoa trong chùm hoa đó sẽ là số năm còn lại trước khi cô lấy chồng. Các thiếu nữ cũng thường bói tình yêu bằng cách lần lượt bứt từng cánh của một bông cúc dại đồng thời lập đi lập lại điệp khúc :

“Chàng yêu ta, chàng không yêu ta, chàng yêu ta…”

Xin làm loài hoa cúc dại_nếu là hoa
Diệu dàng khép cánh mỗi chiều tà
Và mỗi sớm mai bừng thức giấc
Đón chào nắng ấm với sương sadịch:

(Nếu có thể trở thành một bông hoa
Xin được hóa thân thành hoa cúc trắng
Khép nhẹ khi hoàng hôn tĩnh lặng
Và nhờ dương đánh thức lúc ban mai
Ta đón chào tia nắng sớm khoan thai
Và đón cả những long lanh nước mắt)(I’d choose to be a Daisy – Khuyết danh)

CÚC VẠN THỌ

Tên tiếng anh: Marigold
Ý nghỉa: U sầu
thuộc nhóm: Calendula

Cúc vạn thọ luôn được liên hệ với cuộc hành trình của vầng thái dương ngang qua bầu trời mỗi ngày, từ 9h sáng tới 3h chiều. Những người dân Anh thời xưa tin rằng họ có thể chỉnh đồng hồ đựa theo thời khắc mà loài Cúc này mở hay khép lại những cánh hao rực rỡ của nó. Cúc vạn thọ thuộc nhóm Calendula hoa nở quanh năm. Còn tên gọi Marigold có lẽ có nghỉa là Mary-gold ( ten gọi của Đức Mẹ Đồng Trinh).
Người đời tin rằng hoa này tượng trưng cho nỗi buồn bởi vì mỗi ngày hoa đều khóc than cho sự ra đi của mặt trời mà vào lúc đó những cánh hoa đành phải khép lại.
Anh như tia nắng mặt trời
Lòng em sưỡi ấm chan hòa tình anh
Hoàng hôn anh đã đi rồi
Cánh hoa khép lại đau sầu riêng ai.

(John Keats, 1795-1821)

DIÊN VĨ

Tên tiếng anh: Iris
ý nghĩa: thiên sứ hạnh phúc


Tiếng Hy Lạp, “Iris” có nghĩa là Cầu Vồng. Trong thần thoại Hy Lạp, Iris là tín sứ của thần Zeus và nàng thường xuất hiện dưới hình một chiếc cầu vồng. Nàng là người đưa tin trên đỉnh Olympus, Iris mang thông điệp của các vị thần linh từ “con mắt Thiên Đường” xuống cho nhân loại trên trái đất qua vòng cung cầu vồng rực rỡ. Từ Iris cũng có nghĩa là “con mắt Thiên Đường” (the eye of Heaven). Iris, như ta đã biết, là tên của một nữ thần Hy Lạp, một loài hoa, và nó còn có nghĩa là tròng đen trong con mắt chúng ta. Điều này ngụ ý rằng mỗi chúng ta đều mang trong mình một mảnh của Thiên Đường. Những người đàn ông Hy Lạp thường trồng hoa Diên Vĩ tím trên mộ những người phụ nữ mà họ yêu thương để tỏ lòng tôn kính nữ thần Iris, người mang sứ mệnh dẫn dắt những linh hồn phụ nữ này đến chốn Thiên Đàng (the Elysian fields).Diên Vĩ là loài cây lưu niên có thân thảo vươn cao, lá hình lưỡi kiếm và những đóa hoa to nhiều màu sắc với ba cánh và ba đài hoa rũ xuống. Có hơn 200 loài hoa Diên Vĩ xinh đẹp khác nhau với các màu xanh da trời nhạt, tím, vàng, trắng, hồng, cam, nâu đỏ…đa dạng như màu sắc cầu vồng. Hoa Diên Vĩ được xem như sứ giả mang đến những điềm lành. niềm hy vọng. Ba cánh hoa Diên Vĩ đại diện cho lòng Trung Thành, sự Khôn Ngoan và lòng Dũng Cảm. Hoa Diên Vĩ vàng là biểu tượng của ngọn lửa và niềm đam mê

Hoa Diên Vĩ đã từng được thấy ở sa mạc, đầm lầy hay cả miền Bắc cực Siberia lạnh giá, nhiều nhất vẫn là ở các vùng khí hậu ôn hòa. Hoa Diên Vĩ thường được vẽ trong những bức tranh tĩnh vật, như của các danh họa Vincent van Gogh, Monet…Có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải và phía Nam Châu Âu, hoa Iris đã từng được những người Hy Lạp cổ đặt trên trán của Nhân Sư và trên vương trượng của đức vua xem như là biểu tượng của quyền lực. Vào năm 1479 trước Công Nguyên, ở Ai Cập, để ghi nhớ chiến công tại Syria, vua Thutmose III đã cho vẽ những bông hoa Diên Vĩ trên bức tường ngôi đền thờ của mình.
Hoa Diên Vĩ đã là biểu tượng của hoàng gia và sự che chở thần thánh suốt hàng thế kỷ trên khắp thế giới. Loài hoa đầy sức thu hút này được rất nhiều người ngưỡng mộ. Các vị vua chúa nước Pháp đã dùng nó làm biểu tượng hoàng gia và gọi nó là Fleur-de-lis. “Fleur-de-lis” có nguồn gốc từ tên “Fleur-de-Louis”, sau thời vua Louis VII, năm 1147. Theo thời gian, tên đó chuyển thành “Fleur-de-luce”, có nghĩa là hoa của ánh sáng (flower of light), cuối cùng đến ngày nay, nó được gọi là “Fleur-de-Lys”, hay Flower of the Lily (Lily : Hoa Huệ Tây, Loa Kèn, Bách Hợp). Fleur-de-Lis đã là biểu tượng của nước Pháp từ thế kỷ 13. Hoàng gia Pháp trang trí hoa Diên Vĩ trên áo choàng, các đồ vật trong cung điện và trên những bức tường như biểu hiện của sự toàn bích, ánh sáng và cuộc sống. Có nhiều truyền thuyết khác nhau giải thích tại sao hoa Diên Vĩ được chế độ quân chủ Pháp chọn làm biểu tượng . Tương truyền rằng, Clovis, vua nước Pháp triều đại Mêrôvê khi đối mặt với đội quân thiện chiến của Alamanni (Đức) đến xâm chiếm vương quốc mình, ông đã nói với hoàng hậu Clotida rằng ông sẽ theo đạo và chịu rửa tội nếu như Chúa phù hộ ông đánh thắng trận đấu này (trước đó hoàng hậu đã nhiều lần khuyên chồng mình vào đạo nhưng ông vẫn không nghe). Cuối cùng, ông thắng thật và nhận fleur-de-lis làm biểu tượng. Tiếp đó, vào thế kỷ 12, vua Louis trở thành hoàng đế nước Pháp đầu tiên khắc họa hoa Diên Vĩ trên chiếc khiên của mình. Nữ anh hùng nước Pháp, Joan of Arc (Jeanne d’Arc) đã mang theo lá cờ trắng có biểu tượng Chúa hộ mệnh của hoàng gia (hoa Diên Vĩ ) khi bà đánh bại quân Anh tại Orléans (1429).

Ở Nhật, hoa Diên Vĩ tượng trưng cho chí khí anh hùng và dòng dõi quý phái. Hoa Diên Vĩ là một phần quan trọng trong lễ hội mùa xuân dành cho các bé trai.

Hãy nở nữa đi loài hoa sang cả
Để dòng sông quanh quẩn hôn chân người
Hãy nở nửa đi loài hoa khúc hát
Cho chốn trần gian này thêm mãi đẹp tươi

Nằm trên cao nguyên Lang Biang với độ cao 1.475m so với mặt nước biển. Đà Lạt vừa cổ kính vừa hiện đại. Thành phố ẩn hiện trong sương mù vào những buổi bình minh, có một nét quyến rũ độc đáo, kỳ ảo.

dalat1

Đến đây, du khách đắm mình trong khí trời quanh năm mát mẻ. Ngồi trên cáp treo ngắm toàn cảnh Đà Lạt, thấp thoáng phía xa tháp chuông nhà thờ vươn lên trên nền những mái ngói đỏ tươi. Đèo Prenn quanh co, ngoạn mục hay dòng nước lấp lánh ánh bạc hồ Tuyền Lâm, núi Langbian – biểu tượng của tình yêu cao cả và Thiền viện Trúc Lâm, trong không gian thanh tịnh, thoang thoảng phấn hương thông, tiếng chuông ngân như xoá tan đi những hư ảo tục lụy. Đến Đà Lạt là bước vào vương quốc của loài hoa với bốn mùa lung linh khoe sắc: dã quỳ, phượng tím, địa lan, cẩm tú cầu, tường vy, thạch thảo, đỗ quyên, bất tử, thủy tiên, rạng đông,cát đằng, trà my, hồng trà,… Với nhiều cảnh quan tươi đẹp, Đà Lạt xứng danh là thành phố du lịch nổi tiếng nhất của Việt Nam.

HOA HỒNG

Hoa hồng gai: Tỏ lòng tốt.
Hoa hồng đỏ: Một tình yêu mảnh liệt và đậm đà, tỏ sự hạnh phúc vinh dự.

Hoa hồng trắng: Tình yêu trong sáng và cao thượng.
Hoa hồng bạch: Ngây thơ duyên dáng và dịu dàng.
Hoa hồng nhung: Tình yêu say đắm và nồng nhiệt.

Hoa hồng vàng: Một tình yêu kiêu sa và rực rỡ. Tình yêu sút giảm và sự phản bội tỏ ý cắt đứt quan hệ.
Hoa hồng phớt: Bắt đầu một tình yêu mơ mộng
Hoa hồng đậm: Người đẹp kiêu kì.
Hoa hồng thắm: Tình yêu nồng cháy.
Hoa hồng cam: Tình yêu hòa lẫn với ghen tuông.
Hoa hồng viền trắng: Tình yêu kín đáo, sâu sắc, sẵn sàng hy sinh cho người mình yêu
Hoa hồng phấn: Sự trìu mến.

HOA CÚC

Cúc (cho các màu nói chung): sự hoan hỉ, vui mừng; bạn là người bạn tuyệt vời
Cúc đỏ tươi: mến yêu mãi mãi
Cúc đỏ: tôi yêu…
Cúc nhiều màu: đang nghĩ về một người bạn vắng mặt
Cúc trắng: lòng tốt, lòng hào hiệp
Cúc trắng: (tình cảm anh dành cho em là) sự thật
Cúc vạn thọ: dỗ dành con tim
Cúc vàng: lời hỏi thăm hàng ngày, kỉ niệm hàng ngày
Cúc vàng: tình yêu nhẹ nhàng
Cúc zinnia: nghĩ về bạn bè

HOA LOA KÈN

Hoa loa kèn màu cam: Sự căm hờn
Hoa loa kèn sư tử loại lớn, có màu đỏ tía hoặc lốm đốm đen: Sự giàu có và kiêu căng
Hoa loa kèn màu trắng: Tượng trưng cho sự trinh nguyên, trong trắng và uy nghiêm. Thật là tuyệt vời khi được ở bên cạnh em.
Hoa loa kèn vàng: Tôi đang đi bộ trên không trung – Một sự sai lầm.

HOA DÃ QUỲ

Tỏ ý thán phục, yêu mến và quí trọng vì đối tượng có nội tâm phong phú. Tỏ ý lòng kiêu hãnh khó khuất phục.

HOA CẨM CHƯỚNG

Cẩm chướng (chung cho các loại cẩm chướng): khế ước mến yêu; sức khoẻ và sinh lực; quyến rũ; tình yêu của phái nữ.
Cẩm chướng có vằn sọc: không; lời từ chối; xin lỗi em không thể hiểu anh; ước gì anh có thể hiểu em
Cẩm chướng đỏ: con tim anh khát khao em; em ngưỡng
Cẩm chướng đơn sắc: em đã chấp nhận; anh đồng ý với em; anh “tuân lệnh” em! Yes!
Cẩm chướng hồng: anh sẽ không bao giờ quên em
Cẩm chướng tía: tính thất thường (đồng bóng); hay thay đổi và kì dị; dễ thay đổi
Cẩm chướng trắng: em của anh thật dịu dàng và đáng yêu; em thật thánh thiện; tình yêu tinh khôi; quà tặng chúc may mắn của phụ nữ
Cẩm chướng vàng: lời từ chối, không thèm anh đâu!

HOA TULIP

Hoa tulíp nói chung: Bày tỏ tình yêu, thắng lợi và đẹp đẽ, biểu tượng người yêu hoàn hảo.
Hoa tulíp vàng: Bày tỏ tình yêu nhưng không hi vọng.
Hoa tulíp trắng: Tỏ lòng yêu quý.
Hoa tulíp đỏ: Tỏ lòng yêu chưa được đáp lại.
Hoa tulíp xanh: Tỏ lòng chân thành

HOA LILY

Hoa Lily thể hiện sự nhiệt huyết, khát vọng, niềm vui

CÁC LOẠI HOA KHÁC

Anh thảo: anh không thể sống thiếu em, tuổi trẻ

Bạch chỉ: cảm hứng (sáng tạo)
Cây hương thảo: vật kỷ niệm, hoài niệm, lời chúc, thăm hỏi
Cây anh thảo ban tối: tính không bền lòng, thiếu kiên nhẫn
Cây bồ công anh trung quốc: ước mơ thành sự thật
Cây cúc tây: tình yêu, love; thanh nhã, sang trọng
Cây dương mai: chỉ dành cho tình yêu
Cây dương sĩ: tình yêu đích thực
Cây khô (họ đỗ quyên): xin hãy vì anh mà giữ gìn sức khoẻ em
Cây mía (thuộc họ sim): tình yêu , theo người do thái biểu tượng của hôn nhân
Cây phong lan: tình yêu; sắc đẹp; tao nhã; cô gái đẹp, biểu tượng trung là đông con
Cây sen cạn: chinh phục, chiến thắng trên trận địa, tình yêu nước
Cây tầm gởi: hôn em đi!; kiss me; cảm giác thương yêu; vượt qua khó khăn, cây thiêng liêng của Ấn Độ

Cây trúc đào: hãy đề phòng, thận trọng nhé
Chanh: điều thú vị
Chuông ái nhĩ lan: chúc may mắn tốt lành
Cỏ ba lá: chúc may mắn
Cỏ chân ngỗng: tình yêu không phai
Cỏ thi: sức khỏe và lành vết thương

Dâm bụt: sắc đẹp tinh tế
Hoa Đâu: biểu tượng sức sống và vĩnh hằng của người Bắc Mỹ – Âu
Đuôi mèo: hòa bình và thịnh vượng
Dương sĩ đuôi chồn: khế ước bí mật của tình yêu

Forget-me-not: tình yêu chân thành, kí ức không phai
Gỗ thông: hi vọng, điều đáng tiếc
Hồng đỏ tươi: tình yêu chúng ta thật ngời sáng
Hồng đỏ và trắng: sống với nhau, đồng lòng với nhau; đoàn tụ, nhất trí
Huệ tây, loa kèn màu cam: căm thù, căm ghét
Húng quế, rau é: những lới chúc tốt đẹp nhất, tình yêu
Hương (dầu) chanh: mang tình yêu đến
Hướng dương: lòng trung thành: nhưng ước muốn
Keo: tình yêu huyền bí
Lá hồng: anh có thể hy vọng
Lá cọ: chiến thắng và thành công
Lan chuông: sự ngọt ngào, trở lại hạnh phúc; sự khiêm tốn.
Lay ơn: tiếng sét ái tình
Lô hội: sầu thảm, thảm bại, thất bại, đau buồn
Loa kèn đỏ: kiêu hãnh, tự hào nhưng bẽn lẽn thẹn thùng.
Loa kèn vàng: anh đang đi trên mây, mò trăng đáy nước
Loa kèn, huệ tây (trắng ngần): ngăn không cho người lạ đến gần
Mạng nhện: hãy trốn với anh (để xây tổ ấm)

Mẫu đơn: kích thích
Mộc lan: sự ngọt ngào, sắc đẹp, tình yêu thiên nhiên
Một đoá hồng đã nở: lòng biết ơn
Một vòng hồng: món quà cho phẩm chất tốt; trao vương miện; biểu tượng của phẩm chất cao quí
Loa kèn trắng: trinh trắng, trinh nguyên, tinh khôi, uy nghi oai vệ, được ở bên em, anh như ở thiên đàng.
Oải hương: hết lòng tận tâm
Phấn ong (phấn do ong tích lại): tình yêu đã trở lại
Rong rêu: tình yêu bên ngoài, lòng nhân từ
Táo: ưu tiên và thiên vị

Thủy tiên và tiếng vang: là một câu chuyện của chàng đẹp trai và một nữ thần, người đã yêu chàng nhưng chàng đã không dành tình yêu cho nàng. Nữ thần tiếng vang đã bị nữ thần juno phạt phải lặp đi lặp lại từ cuối cùng mà tiếng vang đã nghe. Chàng thuỷ tiên cũng bị đày với hình phạt là chỉ yêu lấy hình ảnh của chính mình vì đã hất hủi nàng tiếng vang. Ngày qua ngày chàng đã gầy mòn vì chỉ nhìn vào chính hình bóng của mình ở trong hồ. Khi chàng chết thì chàng đã biến thành loài mang chính tên chàng
Thuỷ tiên vàng: (em tôn trọng) anh
Thủy tiên: tính tự cao tự đại; trang trọng, hãy giữ sự ngọt ngào như anh đã dành cho em, anh nhé!
Tỏi: sức mạnh, dũng cảm
Trái dâu tây: lòng tốt hoàn hảo

Vi ô lét: khiêm tốn; tính tình điềm tĩnh; thuốc ngủ
Vi ô lét trắng: hãy nắm lấy cơ hội làm nên hạnh phúc
Vi ô lét xanh: tính cẩn thận, lòng chung thủy; em luôn là người chân thật
Vòng hồng: phần thưởng cho sự tiết hạnh
Xô đỏ: anh nghĩ về em

Xương rồng: nhẫn nại, ấm cúng endurance; warmth
BỘ SƯU TẬP PHONG LAN

Phong lan là một loài cây sống phụ sinh trên vỏ của các cây thân gỗ trong các cánh rừng già ẩm thấp. Rễ của nó ăn các chất sinh ra từ các lớp rêu mốc bám trên vỏ cây, đồng thời hút nitơ và các khoáng chất trong không khí và hơi nước. Đây là một loài hoa vô cùng phong phú về chủng loại, về hình dạng, màu sắc, khác nhau đến khó tưởng tượng nổi.

Vườn lan trên núi Hàm Rồng có tới hơn 200 loài phong lan với những vẻ đẹp rất độc đáo. Nơi đây sưu tầm đủ các loài phong lan nổi tiếng, có cả những loài thật hiếm, và những giò phong lan lớn tới hàng chục người khiêng. Có những cành hoa dài hơn một mét, có những bông hoa to như cái bát, và có cả những nhánh hoa chỉ dài hơn cái tăm khoe ra những bông hoa nhỏ như cái khuy bấm. Hương thơm từ ngôi vườn phong lan quện theo gió lan ra đến tận chân núi.

Theo công bố vào năm 1987 của nhà nghiên cứu A.L. Takhtajan, người ta đã tìm thấy khoảng 750 chi với 25000 loài phong lan khác nhau trên khắp thế giới, từ Mêhicô tới Ấn Độ và các đảo giữa Thái Bình Dương. Các nhà thực vật học cũng coi phong lan là loài cây cho những kiểu hoa đẹp nhất, cả về hình dáng và màu sắc. Đặc biệt, mỗi loài tuy có một mùi hương thơm riêng biệt, độc đáo nhưng đều có một nét chung là rất tao nhã, nhẹ nhàng, thấm đượm mà các loài hoa khác không thể có được.

Vốn là loài hoa hoang dã, nhưng phong lan lại kiêu sa và khó tính. Mỗi loài phong lan chỉ sống được trên những nền rêu mốc nhất định, chỉ phát triển trong những môi trường có độ ẩm nhất định, có hướng nắng và độ chiếu sáng nhất định, cho nên nó chẳng những rất phong phú về chủng loại mà còn rất khó nuôi và chăm sóc.

Là những cánh rừng nguyên sinh trải rộng trên các dãy núi lớn có độ cao chênh lệch và môi trường sinh thái đa dạng, các khu rừng ở Hoàng Liên Sơn và ở quanh Sa Pa chính là một thiên đường của phong lan. Vào khoảng từ tháng 3 đến tháng 6, phong lan nở khắp rừng và từ bờ suối đến khe sâu đều mát dịu mùi hương của hàng trăm loài phong lan khác nhau…

Ở Sa Pa trước đây, khi các cánh rừng già vẫn còn ôm ấp lấy thị trấn nhỏ bé này thì đến mùa lan nở, người ta chỉ việc đi vài trăm mét là vào tới rừng, tìm chọn lấy những giò lan đẹp nhất mang về treo trong vườn. Trong các tư liệu cũng có nói về một cánh rừng ở ngay sát thị trấn mà trên bản đồ của người Pháp có ghi là rừng phong lan, chắc hẳn là ở đó đã có rất nhiều loài hoa này. Và cũng chỉ vừa mới cách đây vài năm, người dân bản vẫn vào rừng xa, hái phong lan mang ra chợ bán. Các giò lan rừng chất cao thành đống ở vỉa hè được bán theo mớ, rẻ hơn rau cỏ.

Nhưng rồi càng ngày lan rừng Sa Pa càng hiếm đi trông thấy và đến khi đó người ta mới chợt nhớ rằng từ nhiều năm nay, có một số người ở thị trấn vẫn đang âm thầm chơi phong lan như một thú vui ẩn dật.

Để tìm được các cành phong lan nhỏ bé âm thầm bám lơ lửng đâu đó tít trên các cành cây cao giữa rừng sâu đã là một việc khó, mất nhiều công sức, nguy hiểm nhưng cũng còn cần có cả may mắn nữa. Lấy được lan về đến vườn rồi điều quan trọng nhất là phải tìm được cách giữ cho chúng có đủ các điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm thích hợp thì lan mới sống được. Giữ cho lan sống được ở trong vườn nhà đã rất khó, nhưng làm sao cho năm sau giò cây lại nở hoa tươi tốt, đủ sắc đủ hương như trong rừng lại là một điều cực khó.

Một số loài phong lan lạ mới phát hiện ở Sa Pa đã được đặt tên ghép với hai chữ Sa Pa, nơi người ta đã lần đầu tìm thấy chúng. Thí dụ như: Môi dày Sa Pa, Lan sữa Sa Pa, Lưỡi vàng Sa Pa…, là những cái tên đã chính thức được đưa vào danh mục phong lan thế giới.

About these ads

2 responses to “Ý nghĩa tên gọi các loài hoa

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s