Monthly Archives: Tháng Mười 2010

Đà Lạt mùa hoa quỳ

Bắn pháo hoa tại Festival Hoa Đà Lạt 2010

Đà Lạt: Hẹn mùa Dã Quỳ( Guitar & Vocal)


Ấp ủ mãi một entry thật dài cho Đà Lạt mấy năm nay, nhưng viết mãi vẫn chưa xong, cứ sợ câu chữ không diễn tả hết được tình cảm mình dành cho nơi này. Thôi thì post trước một số hình vừa chụp hồi tuần rồi vậy.

Đà Lạt mùa này đang vào mùa hoa Dã Quỳ, đâu đâu cũng thấy bóng dáng loài hoa này. Thức dậy buổi sớm mai, đi lang thang trên những con đường vắng lặng, cái lạnh se se cùng sự yên bình…

Trong chuyến đi này mình tìm thấy được một thung lũng vàng rực hoa quỳ, nằm khuất sau một vách núi. Đẹp vô cùng…

 

Mình đặt tên nơi này là “Thung lũng hoa Quỳ”

Mình đặt tên nơi này là “Thung lũng hoa Quỳ”
Trong nắng mai

Trong nắng mai
Hoa ở Đà Lạt

Hoa ở Đà Lạt

Mình thấy chú bé này khi đi lang thang ở Đạ Sa. Ba mẹ đang chăm sóc hoa, cu cậu đứng chơi một mình rất ngoan, cho bịch cốm không đợi ba mẹ nhắc là cảm ơn ngay rất lễ phép.

Một loài hoa rất thường gặp ở Đà Lạt

Một loài hoa rất thường gặp ở Đà Lạt
Hồng tỉ muội trên một hàng rào

Hồng tỉ muội trên một hàng rào

Hoa này có một tên rất đẹp, tuy nhiên mình vẫn thích cái tên dân dã của nó: “Hoa trăm ổi”
Khi đi gần những bụi hoa này, có cảm giác như đang đi giữa một vườn ổi chín.

hoa Bồ Công Anh

hoa Bồ Công Anh

Hẹn Đà Lạt một entry thật nhiều cảm xúc, nhất định sẽ viết.

Núi Lu Bu, đèo Bảo Lộc

Phiêu lưu đăng sơn là một trong những thú vui mà du khách đến với Lâm đồng thường thực hiện. Chuyến phiêu lưu kì này, dalathoa mời bạn chinh phục Đèo B’lao (Bảo Lộc) và núi Lu Bu với hành trình khám phá chinh phục Bảo Lộc, Lâm Đồng.


Du khách từ TPHCM lên Đà Lạt theo quốc lộ 20, nhất định phải ngang đèo B’lao (hay đèo Bảo Lộc) dài hơn 10km. Đèo với đường dốc quanh co, khúc khỉu nhưng phong cảnh lại tuyệt đẹp, hữu tình.

Không hùng vĩ như Ngoạn Mục, nhưng đèo Bảo Lộc mang một vẻ hoang sơ riêng. Ẩn hiện dưới những vách đá cheo leo nhà những bông hoa tím nho nhỏ.

Mùa này hoa tím giăng khắp các vách đá trên đèo, hoa rừng không hương, không mặn mà nhưng lại quyến rũ bởi cái duyên mộc mạc, đơn sơ của nó. Xa xa là những tán cay bụi um tùm, những cây chuối rừng ẩn hiện thấp thoáng trong mang sương mù giăng triền núi.

Đi được hơn nửa đoạn đường du khách sẽ gặp miếu thờ Ba Cô

Khúc cua quanh co chữ u khúc khĩu, lái xa khi qua khúc cua này thường chạy rất chậm, khấn vái. Rất nhiều du khách, tài xế còn dừng lại thắp hương cho Ba Cô cầu an toàn.

Miếu Ba Cô còn là một thắng cảnh đẹp mang vẻ đẹp tâm linh, gần gũi nhưng hơi rùng mình khi nghe kể về sự tích Ba Cô tại đây.

Trước đây có ba cô gái tên là Loan – Hòa – Thảo là người dân miền đất Bảo Lộc và cả ba cô đều là sinh viên đang học tại Sài Gòn. Mùa hè đến, khi ba cô trên chuyến xe về quê, chạy tới khúc cua này do tài xế chạy nhanh nên bị lật xe và lao xuống vực tử nạn. Không lâu sau đó có một đoàn xe du lịch lên Đà Lạt chạy tới khúc quanh này thì cũng bị lật xe và lao xuống vực. May mắn thay trong đoàn xe ấy còn bốn người sống sót gồm một chàng trai và ba cô gái.

Dù rất yếu sau vụ tai nạn nhưng cả bốn người đều cố động viên lẫn nhau để cùng leo lên tới mặt đường. Trong quá trình leo lên dốc vực,cả bốn người đã làm quen với nhau và nói chuyện rất vui vẻ và hợp ý nhau. Do chàng trai bị nặng hơn nên thường xuyên được ba cô gái dìu dắt, kéo lên. Khi lên tới mặt đường, do đuối sức, chàng trai đã ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, chàng trai thấy mình nằm trong bệnh viện nhưng không thấy ba cô gái kia đâu. Chàng hỏi mọi người thì biết rằng người ta chỉ thấy có mỗi mình chàng nằm bên đường mà không hề thấy có thêm ai cả. Khi chàng miêu tả nhân dạng của ba cô gái nhưng cảnh sát nói rằng toàn bộ số người trong đoàn xe ấy đã thiệt mạng, hoàn toàn không có ai trẻ tuổi và giống như người chàng trai miêu tả cả và chàng là người duy nhất may mắn còn sống sót. Điều đặt biệt là hình dáng chàng trai miêu tả lại rất giống với ba cô gái bị tử nạn lúc trước.

Người ta cho rằng vì chết quá trẻ và còn trinh trắng nên oan hồn của ba cô gái lúc trước cứ vất vưởng nơi chân đèo và khi gặp trường hợp tai nạn tương tự nên đã hiển linh giúp đỡ chàng trai trẻ thoát chết. Sau đó dân làng nơi đây đã lập một ngôi miếu nhỏ bên chân đèo để cầu siêu cho linh hồn của những người chết oan vì tai nạn xe cộ và nhất là oan hồn của ba cô gái trẻ, và cầu an cho những khách bộ hành có việc khi đi ngang qua đoạn đường đèo này! Từ đó tai nạn xe cộ, ngay chỗ đèo nguy hiểm cũng bớt, và sau này người ta không còn thấy ba cô hiện ra nữa.

Nghe cũng rùng mình thật. Bởi sự linh thiên bí ẩn nên nơi đây hương khói đầy đủ, người viếng tấp nập, chẳng mấy chốc ngôi miếu thờ trở thành điểm tham quan. Nơi đây tập có nhiều hàng quán, nhiều tiểu cảnh, bãi đậu xe… tất cả phục vụ cho du lịch là chính.

Xa xa trên sường đèo du khách sẽ thấy thấp thoáng một ngọn núi phía xa xa với hình dáng rất quái, núi có cái tên cũng ngộ nghĩnh: núi Lu Bu


Dọc theo thung lũng suối Đa Hòa xuất hiện dãy núi đồ sộ ở phía trái, về hướng tây bắc, Muốn lên đỉnh này phải băng qua ba ngọn đồi nằm dài nối tiếp nhau. Đây là những ngọn đồi với những tán rừng nguyên sinh vẫn còn đậm nét nên thu hút được sự tò mò khám phá của khá nhiều đoàn du khảo nước ngoài.

Cuộc hành trình băng qua nhiều con suối, trong đó có suối Lạnh. Nước ở đây trong, mát lạnh lạ thường và trở thành nguồn nước uống chính cho người đi rừng.


Thiên nhiên ở đây thật hùng vĩ, cảnh núi non, rừng cây phủ kín, tiếng kêu hoang dại của muông thú… Đâu đó tiếng rì rào của thác, những làn hơi nước bốc lên tựa như những đám mây mờ ảo… Tất cả hòa quyện vào nhau tạo thành một cảnh tượng tuyệt mỹ, một bản hùng ca hùng vĩ của núi rừng.


Trời tạnh mưa. Những tia nắng bắt đầu len lỏi qua các tán lá rậm rạp. Vất vả gần sáu giờ leo núi với không dưới bốn lần nghỉ chân, chúng tôi cũng đến được đỉnh Lu Bu. Cảnh thật đẹp, thật hùng vĩ, ngoài sức tưởng tượng. Một khối đá to, cao trên 50m chót vót ngay trên đỉnh núi.

Phiến đá trên cao này mang dáng dấp sừng của một con tê giác, là biểu tượng cho sức mạnh và sự giao hòa của đất trời nơi đây, người dân hằng ngày thường đi theo nhóm lên núi bẻ măng, đốn lồ ô…phần đông là người dân tộc thiểu số sống dưới chân núi.

Hy vọng qua bài viết này sẽ giúp các bạn có một chuyến thám hiểm núi rừng Lâm Đồng thật ý nghĩa. Bài viết chỉ mang tính khái quát và giới thiệu, chân thành cảm ơn Trịnh Minh Nhật về những bức ảnh, hi vọng hi hữu dalathoa sẽ có một chuyến thám hiểm về nguồn nơi đây kết hợp công tác từ thiện rất tuyện và đầy nghĩa cử cao đẹp.

THÔNG TIN THAM QUAN

LỘ TRÌNH: TPHCM – MADAGUI – ĐẠ HÒA – HỎI ĐƯỜNG NGƯỜI ĐỊA PHƯƠNG CHỈ ĐI NÚI LU BU – RA LẠI QL 20 – BẢO LỘC – LEO ĐÈO

CHUẨN BỊ: áo mưa bộ, băng y tế cá nhân, lương khô, nước uống, giày thể thao, găng tay, thuốc dep, vài viên sủi bọt… và túi ngủ, lều trại (nếu ngủ đêm trên núi).
Không nên ngồi, đứng lâu trên các thân cây gỗ mục để tránh bị rết cắn. Và điều quan trọng nhất là bạn cần thuê một người dẫn đường là người địa phương chuyên đi rừng vì rất dễ lạc.

Đà Lạt- Thành phố Du Lịch


Mỗi thành phố đều có đặc điểm riêng: phong cảnh, khí hậu, ước mơ của những người xây dựng. Với rừng thông trùng điệp, thác nước, hồ, suối, khung cảnh yên tĩnh, Đà Lạt không những là một nơi nghỉ dưỡng lý tưởng mà còn là một trung tâm du lịch nổi tiếng.

Vào những năm 1930, ở Đà Lạt, có thể dễ dàng thuê ô tô và ngựa, nhưng nhờ khí hậu mát mẻ, đi bộ là một thú vui lớn. Du khách dạo chơi trên những con đường mòn dưới rừng thông hay đi xa hơn ra ngoài vùng ven thành phố. Những ai thích leo núi, ngoài 5 đỉnh núi Lang Bi-an, có thể tự  vạch những lối đi băng rừng lên đến đỉnh non cao. Những người quan tâm đến kinh tế địa phương có thể viếng thăm các đồn điền chè và cà phê ở Cầu Đất, Djiring và trạm thử nghiệm cây canh-ki-na ở Đrăn. Sinh hoạt của người Thượng còn mang tính chất nguyên sơ và thuần phác cũng rất hấp dẫn.

Du khách đi bộ, lái xe hay cưỡi ngựa trên 3 tuyến đường vòng dài 3, 7 và 11km đi đến thác Cam Ly và ngang qua những khu rừng tuyệt đẹp khiến người ta liên tưởng đến rừng Fontainebleau (Phông-te-nơ-blô). Trên đường vòng 99 ngoạn cảnh  (đường vòng săn bắn hay đường vòng Lâm Viên) dài 20km, du khách gặp nhiều đàn nai quen thuộc với ô tô.

 

Đèo ngoạn mục

Du lịch bằng xe hơi theo tuyến đường Đà Lạt – Phi Nôm – Đrăn – Đà Lạt mất khoảng 2 giờ 45 phút. Trước hết, xe xuống đèo đến Phi Nôm, quẹo trái ngang qua đồn điền cà phê và đi dọc theo thung lũng phì nhiêu của sông Đa Nhim. Từ Đrăn, xe lên đèo đến Trạm Hành. Trên chặng đường này, du khách nhìn thấy đường sắt răng cưa chạy trên triền dốc.

Tuyến đường Đà Lạt – Phan Rang – Nha Trang là một trong những tuyến đường miền núi đẹp nhất ở Đông Dương. Trên chặng đường từ Ngoạn Mục ngang qua Trạm Hành (42km), xe đi mất hơn 1 giờ. Trên đèo Ngoạn Mục dài 20km, du khách say mê ngắm cảnh Trường Sơn từ hoành sơn cuối cùng của cao nguyên Lang Bi-an chạy đến tận Biển Đông. Đặc biệt, cách Ngoạn Mục 1km, một vọng lâu được xây cất giúp cho du khách ngắm phong cảnh tuyệt đẹp trải dài dưới tầm mắt.

Tuyến đường Đà Lạt – Buôn Ma Thuột có thể đi bằng xe trong mùa khô. Từ Đà Lạt, xe đi trên đường xuống Djiring, quẹo phải ở cây số 31 (thác Liên Khàng), đi tiếp con đường dẫn đến Buôn Ma Thuột. Sau khi đi được 148km, xe dừng bên hồ Lắc (Taklak) trong xanh. Sau một chặng đường dài 45km đi qua giữa vùng săn bắn, xe đến Buôn Ma Thuột, trung tâm của xứ Ê-đê.

Leo lên đỉnh đầu tiên trong 5 đỉnh núi Lang Bi-an tương đối dễ dàng. Du khách đi ô tô đến điểm đầu tiên (10,5km trên đường Đà Lạt – Đăng Kia). Từ sáng sớm, du khách dùng ngựa hay kiệu đi trong khoảng 1 giờ rưỡi đến một ki-ốt. Đoạn đường còn lại tuy ngắn nhưng rất dốc, phải đi bộ khoảng 45 phút. Đỉnh núi đầu tiên không phải là đỉnh cao nhất. Tuy nhiên, từ đây du khách có thể nhìn thấy phong cảnh tuyệt đẹp của vùng Đăng Kia và những hoành sơn đầu tiên của Đắc Lắc.

Tiếp tục đi trên con đường nối liền các đỉnh núi, du khách đi trong nửa giờ thì đến đỉnh núi thứ 2, rồi đỉnh núi thứ 3. Đây là một đỉnh núi cao 2.200m. Một đại dương sóng màu xanh lá cây nhấp nhô đến tận những khu rừng ở hướng Nam và Tây. Sườn đồi phía Bắc dốc đứng và rừng rậm hơn phía cao nguyên Lang Bi-an. Đây là giang sơn của những đàn nai, bò rừng, voi, heo rừng, cọp, và có thể cả tê giác. Các loài hoa phong lan và thực vật đặc biệt thu hút sự chú ý của những nhà sưu tầm.

Cuối cùng, sừng sững đỉnh núi thứ 4 và thứ 5 cao nhất trong dãy núi, phủ một lớp cây màu xanh thẫm. Từ bao đời nay, đây là những đỉnh núi thiêng của người Lạch. Họ không dám chặt phá cây cối. Không có lối đi, du khách phải dùng rìu và rựa tự mở lối đi. Leo núi trong 2 giờ đồng hồ thật vất vả nhưng bữa ăn trưa trên đỉnh núi cao, hít thở không khí trong lành và mát rượi khiến du khách quên đi nỗi gian truân vừa qua.

Mặt bằng của đỉnh núi không rộng (khoảng 15 x 30m), trúc và cây to che khuất tầm nhìn xa. Dưới chân, rừng rậm trải ra mọi phía. Vạn vật đều chìm trong sương mờ: vài cánh chim hiếm hoi, thực vật miền đất lạnh, hoa đỗ quyên… Trước khoảng không bao la, du khách cảm thấy cô đơn lạ lùng!

Leo núi Lang Bi-an tốt nhất nên thực hiện vào mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 3. Vào thời điểm khác, đỉnh núi thường phủ đầy mây mù.

*

Ở Đăng Kia (cách Đà Lạt 15km) có một nông trại nuôi bò và cừu cung cấp sữa, bơ và phó-mát cho các khách sạn và dân cư ở Đà Lạt.

 

Nông trại Đăng Kia

Giữa Đà Lạt và Đăng Kia, du khách gặp buôn Bờ Nơ (Beneur) của người Lạch nằm ở lưng chừng đồi. Những cây nêu cắm xung quanh nhà lợp tranh. Nghĩa trang với cây cối um tùm che kín đỉnh đồi bên cạnh.

Đối với du khách thích mạo hiểm, không chịu lùi bước trước khó khăn, Đắc Lắc rất hấp dẫn. Từ Đăng Kia, du khách đi vòng hoành sơn cuối cùng của dãy Lang Bi-an vào vùng Đắc Lắc. Một con đường rừng hẻo lánh đi ngang qua nhiều thác nước và vùng đất của các bộ tộc người Bí, Chin và Lạch. Sau ba ngày đường vượt qua nhiều nhánh sông rộng của sông Xrê Pốc, du khách đến Mébach, ven hồ Lắc. Hồ rất rộng, dài 3km, rộng 2km, nằm giữa vùng núi non hiểm trở rất ngoạn  mục. Xa xa, về hướng Tây, là Buôn Ma Thuột. Đắc Lắc cũng có nhiều thú rừng như Lang Bi-an nhưng đường đi khó hơn.

*

Đà Lạt và vùng ven có rất nhiều thác nước:

 

Thác Liên Khàng

 

Thác Ăn Krô-ét

Thác Bô BlaThác Pông gua

Thác Cam Ly chỉ cách bưu điện 2km là một thác nước rất đẹp có những con đường mòn và ki-ốt dưới rừng thông.

Thác Ăn Krô-ét (Ankroët) thứ nhất cách Đăng Kia 4km trên dòng sông Đạ Đờng là thác nước cao 18m nằm trong một vực sâu hoang vắng giữa rừng thông. Một ki-ốt được cất lên ở tả ngạn dòng sông, phía trên thác. Quanh thác, du khách nhìn thấy nhiều loài hoa phong lan. Người ta đã lập dự án sử dụng năng lượng của thác nước để thắp sáng trung tâm thành phố Đà Lạt và vận chuyển bằng đường sắt từ Krong-pha lên Đà Lạt.

Thác Ăn Krô-ét thứ hai cách Đăng Kia 6km. Ở hạ lưu sông Đạ Đờng còn nhiều thác nước khác nhưng ít ai đến tham quan vì đường sá khó khăn.

Thác Pren (Prenn) cách Đà Lạt 13km nằm ngay bên cạnh đường 20. Cũng có thể đi bộ mất 1 giờ rưỡi để đến thác Pren sau khi đi ngang qua nông trại Savoie (Xa-voa) của Grillet (Gri-dê).

Ven đường đến Djiring có thác Liên Khàng (cách Đà Lạt 31km) và thác Gu Ga (Gougah) đẹp hơn (cách Đà Lạt 38km).

Tiếp tục lên đường về hướng Djiring, cách Đà Lạt 46km, một con đường mòn dài 6km ô tô lưu thông được dẫn đến thác Pông Gua (Pongour). Đây là thác nước cao 30m hùng vĩ nhất trong vùng. Vào mùa mưa, tiếng nước va vào những tảng đá vang xa hơn 3km. Dòng nước chảy vào một hồ êm đềm dưới chân thác.

Ở phía Tây thác Pông Gua có thác Pôi (Poy), đường rất khó đi.

Thác K’Dòn (Queyon) còn hoang vu hơn, cao 45m. Đường đến thác cách đường Đà Lạt – Sài Gòn 12km ở cây số 58, nếu đi bộ phải mất 2 giờ đường rừng.

Thác Bô Bla (Bobla) cao 45m nằm trên dòng suối Đa Rê-am, cách Djiring 7km trên đường Đà Lạt – Djiring – Blao. Có những con đường mòn dẫn đến chân thác.

Trên đường 11 đi Phan Rang, nếu dừng lại ở cây số 14, du khách tìm thấy một con đường rừng dẫn đến thác Đạ Xa (Da Sarr).

*

Những người yêu thích thể thao tìm thấy ở Đà Lạt một môi trường thích hợp. Một trong những trung tâm thể thao hấp dẫn là Hồ Lớn. Tại đây, những ai yêu thích chèo thuyền và bơi lội rất thích thú trải qua những giây phút khó quên. Nhà thuỷ tạ với bục nhào đặc biệt được xây dựng cho những tay bơi. Mùa bơi lội lý tưởng nhất kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8. Trong thời gian này, nhiệt độ trong nước dao động giữa 20oC và 23oC. Dưới bầu trời Đà Lạt, tắm nắng rất tốt cho sức khoẻ và màu da. Những chiếc thuyền hai mái chèo tha hồ trôi trên mặt nước hồ dài 2km và rộng 300m.

Một địa điểm khác cũng hấp dẫn không kém là sân cù 9 lỗ với lối đi rất đa dạng. Trên sân cù có một câu lạc bộ đầy đủ tiện nghi. Những người chơi cù tranh cúp vào dịp Tết dương lịch và lễ Phục Sinh.

Đà Lạt còn có nhiều sân quần vợt. Những nhà thể thao thường lui tới nơi này trong mùa khô, tranh cúp hằng năm tổ chức vào dịp lễ Phục Sinh và tranh giải trong những dịp khác.

Từ tháng 9 đến tháng 12 là thời gian tranh giải bóng đá.

Những người thích cưỡi ngựa có thể thuê ngựa theo giờ. Loại ngựa địa phương tuy nhỏ con nhưng chạy rất dai sức, thích nghi với địa hình miền núi.

 

Thuỷ tạ

 

Đồi cù

 

Câu lạc bộ thể thao

Đà Lạt có 3 khách sạn lớn:

– Langbian Palace là một khách sạn lớn sang trọng, trang bị hiện đại, có 30 phòng;

– Hôtel du Parc;

– Khách sạn Desanti (Đơ-dăn-ti) gồm nhiều ngôi nhà nhỏ rải rác ven bờ hồ mà ngôi nhà lớn nhất mang tên Hôtel du Lac.

Ngoài ra, Đà Lạt còn có nhiều biệt thự, nhà nghỉ gia đình (pension de famille), 3 cư xá và 6 khách sạn khác (Bảng trang 167):

Khách sạn giảm giá cho những gia đình đông người và du khách ở lại Đà Lạt trong thời gian dài. Những biệt thự và ngôi nhà gỗ giữa vườn hoa nhỏ xinh xắn được cho thuê với giá phải chăng: từ 60 đến 200 đồng mỗi tháng. Giá thuê phòng tại Khách sạn Hồ là 5 đồng mỗi ngày, không kể rượu nho. Thời gian tối thiểu mỗi chuyến nghỉ dưỡng và du lịch ở Đà Lạt  là 20 ngày. Tiền xe và lưu trú mất khoảng 130 đồng cho 1 người và 240 đồng cho mỗi gia đình không con.

STT TÊN CƯ XÁ VÀ KHÁCH SẠN VỊ TRÍ CŨ VỊ TRÍ HIỆN NAY
1 Cité Bellevue (cư xá Ngoạn Mục) Đường Canivey Đường Lê Lai
2 Cité Decoux hay Cité des Pics (Đỉnh núi) Gần hồ Đa Thành Đường Vạn Kiếp
3 Cité Saint Benoit Đường Chi Lăng
4 Hôtellerie provencale Place du Marché (Quảng trường Chợ) Khu Hoà Bình
5 Annam Đường Helgouach Đường Đoàn Thị Điểm
6 Saigon Đường Minh Mạng Đường Trương Công Định
7 Bon Air -“- -“-
8 Royal -“- -“-
9 Võ Quang Tiềm Đường Annam Đường Nguyễn Văn Trỗi

Về ẩm thực, Đà Lạt có 11 hiệu ăn, đa số tập trung tại Quảng trường Chợ.

STT HIỆU ĂN VỊ TRÍ CŨ VỊ TRÍ HIỆN NAY
1 Au chat botté Place du Marché (Quảng trường Chợ) Khu Hoà Bình
2 Chic Shanghai -“- -“-
3 Dan Sanh -“- -“-
4 La Dauphinoise -“- -“-
5 La mascotte -“- -“-
6 Le cabaret -“- -“-
7 Le Mékong -“- -“-
8 Lila Dena -“- -“-
9 Au sans souci Đại lộ Pierre Pasquier Đường Hồ Tùng Mậu
10 La rotonde Saint Benoit Khu phố Chi Lăng
11 La Savoisienne đầu đèo Pren trên đồi Robin
Nhà hàng La rotonde
Thực đơn nhà hàng lanbian Palace ngày 2-11-1926

Đà Lạt về đêm cũng không đến nỗi buồn chán. Tại câu lạc bộ, du khách có thể ghi tên tham dự vui chơi, giải trí. Khách sạn Langbian Palace tổ chức những buổi dạ hội khiêu vũ.

Du khách ham thích khiêu vũ đến các vũ trường:

STT TÊN VŨ TRƯỜNG VỊ TRÍ CŨ VỊ TRÍ HIỆN NAY
1 Au chat botté Place du Marché Khu Hoà Bình
2 La lune -“- -“-
3 La croix du Sud Maréchal Foch Đường 3 tháng 2
4 L’ ambiance Duc de Long Mỹ Đường Thủ khoa Huân
5 Le cabaret Général Leclerc Đường Trần Quốc Toản
6 Night Club Rue des Saigonnais Đường Yên Thế

Đà Lạt  có 4 rạp chiếu bóng :

STT TÊN RẠP CHIẾU BÓNG VỊ TRÍ CŨ VỊ TRÍ HIỆN NAY
1 Eden Đường Đồng Khánh Đường Nguyễn Chí Thanh
2 Langbian Đường Cầu Quẹo Đường Phan Đình Phùng
3 Annam Đường Annam Đường Nguyễn Văn Trỗi
4 Le colibri Đường Van Vollenhoven Đường Phan Bội Châu

 


Tên đường Đà Lạt xưa và nay

 

STT TÊN CŨ (trước năm 1953) TÊN MỚI (thay đổi về sau)
1 Abattoir (Lò sát sinh) Lê Quý Đôn
2 Adran Bá Đa Lộc, Hà Huy Tập (1)
3 Albert Sarraut Thống Nhất, Yersin (5)
4 Ankroet Ankroet
5 Annam Hàm Nghi, Nguyễn Văn Trỗi (1)
6 Auger Ya Gut
7 Babey Nguyễn Du
8 Basse du Camly (Cam Ly Hạ) Phạm Ngũ Lão
9 Bellevue (Ngoạn Mục) (cư xá) Lam Sơn
10 Bourgery Lý Thái Tổ, Gia Long, Trần Quang Diệu (1)
11 Calmette Calmette + Thi Sách + Ngô Quyền; Calmette   Phạm Ngọc Thạch (1)
12 Canivey Lê Lai
13 Carrières (hầm đá) (2) Đào Duy Từ
14 Cassaigne Mai Hắc Đế
15 Cầu Quẹo Phan Đình Phùng
16 Champoudry Phạm Phú Thứ, Lê Hồng Phong (1)
18 Clémenceau (ngã tư) Ba Đình
19 Cunhac Bà Triệu
20 Dankir Đinh Tiên Hoàng + Nguyễn Công Trứ + Tôn Thất Thuyết +Nguyễn Hoàng (4) + Dankir
21 Darles Triệu Việt Vương
22 De Gaulle (quảng trường) Diên Hồng
23 De Lattre de Tassigny Trình Minh Thế, Khởi nghĩa Bắc Sơn) (1)
24 Đồng Khánh Thành Thái , Nguyễn Chí Thanh (1)
25 Fernand Millet Dã Tượng
26 Foch (Maréchal) Duy Tân, 3 tháng 2 (1)
27 France Pháp Quốc, Cộng Hoà, Lý Tự Trọng (1)
28 Gare (nhà ga) Nguyễn Trãi
29 Gia Long Lê Đại Hành
30 Glaieuls Hoa Glaieul (lay-ơn), Ngô Đình Huân, Phạm Phú Quốc, Nguyễn Viết Xuân (1)
31 Graffeuil Lê Thái Tổ, Hùng Vương (1)
32 Hà Văn Ký Ký Con
33 Helgouach Đoàn Thị Điểm
34 Henri Maitre Yết Kiêu
35 Hôpital (bệnh viện) Hải Thượng
36 Jardins (vườn rau) La Sơn Phu tử
37 Jean O’Neil Hùng Vương, Hoàng Văn Thụ (1)
38 Khải Định Cường Để, Nguyễn Văn Cừ (1)
39 Lacaze Nguyễn Thái Học
40 Lamartine Bà Huyện Thanh Quan
41 Leclerc Trần Quốc Toản
42 Léon Garnier Phạm Hồng Thái
43 Lò Gạch Hoàng Diệu
44 Long Tự Đức, Hồ Tùng Mậu (1)
45 Long Mỹ (Quận công) Thủ khoa Huân
46 Louat de Boart Cô Giang + Phó Đức Chính
47 Marché (chợ) (quảng trường) Khu Hoà Bình
48 Milice (cảnh binh) Phan Thanh Giản, Nguyễn Thị Hồng Gấm (1)
49 Minh Mạng Trương Công Định (1)
50 Missions (đoàn truyền giáo) Nhà Chung
51 Mossard Hàn Thuyên
52 Nhà Làng (dốc) Nguyễn Biểu
53 Pages Tô Hiến Thành
54 Pasteur Hai Bà Trưng
55 Paul Doumer Trần Hưng Đạo
56 Pétrus Ký Trương Vĩnh Ký, Nam Kỳ Khởi nghĩa (1)
57 Pics (đỉnh núi) (cư xá) (3) Bảo Long, Vạn Kiếp
58 Pierre Pasquier Nguyễn Trường Tộ, Hồ Tùng Mậu (1)
59 Prenn Nguyễn Tri Phương (6) + Đặng Thái Thân + Trần Nhân   Tôn
60 Prenn cũ Tiền quân Thành, Khe Sanh (1)
61 René Robin Quang Trung + Phan Chu Trinh
62 Robelin Lê Thánh Tôn
63 Robinson Huyền Trân Công chúa
64 Roses Hoa Hồng, Ngô Đình Khôi, Huỳnh Thúc Kháng
65 Roume Pasteur, Lê Hồng Phong (1)
66 Saigonnais Tả quân Duyệt, Yên Thế (1)
68 Saint Nicolas (quảng trường) Cộng Hoà
69 Schertzur Trạng Trình
70 Surna Trần Khánh Dư
71 Thouard Võ Tánh, Bùi Thị Xuân (1)
72 Trại Hầm (dốc) Hoàng Hoa Thám
73 Van Vollenhoven Phan Bội Châu
74 Yersin Trần Phú (1)

(1) đổi tên từ năm 1975.

(2) còn gọi là Dốc Nhà Bò.

(3) còn gọi là Decoux.

(4) Từ năm 1975, đường Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Hoàng đổi thành Xô viết Nghệ Tĩnh.

(5) đổi tên từ năm 1993.

(6) Từ năm 1975, đường Nguyễn Tri Phương đổi thành đường 3 tháng 4

Trên Quê Hương người Lạch- Đà Lạt( Lâm Đồng)

CAO NGUYÊN LANG BI-AN

chân trời hướng Bắc, dãy núi Lang Bi-an sừng sững hiện ra, tạo hậu cảnh cho thành phố Đà Lạt với hai đỉnh núi cao 2.167m và 2.154m. Dưới chân núi là xã Lát và huyện lỵ huyện Lạc Dương.

Năm 1899, bác sĩ Étienne Tardif (Ê-chiên-nơ Tạc-đíp) đã leo lên dãy núi Lang Bi-an và viết về cao nguyên Lang Bi-an:

“Cao nguyên Lang Bi-an là mt vùng rng ln tri ra xung quanh giao đim ca 106o kinh Đông và 12o vĩ Bc, có hình dáng mt hình en-líp mà đường trc ln Bc – Nam dài 18km và đường trc nh Đông – Tây dài t 10 đến 12km.

Đ cao thay đi t 1.300 đến 1.550 và 1.600m.

Đnh núi cao nht ca dãy Lang Bi-an án ng cao nguyên Lang Bi-an v hướng Bc. V các hướng khác, nhng chm núi dài và cao bao bc cao nguyên Lang Bi-an.

Khi nhìn thy cao nguyên Lang Bi-an, điu đp mnh vào mt tôi trước tiên là đa hình. C mt vùng rng ln gm nhiu ngn đi nm k bên nhau, ni tiếp nhau, chế ng ln nhau, sườn đi này dc thng đng, sườn đi kia nm thoai thoi trên mt đt. Nhng thung lũng rng và sâu nhiu hay ít chia ct núi đi dn sóng, len vào gia là con đường ni lin Đăng Kia (Dankir, Dankia) vi Đà Lt.

C vùng đi núi này đu ph mt lp c ngn vào mùa khô, cao và dày vào mùa mưa.

Trong thung lũng mc nhiu loài thc vt khác nhau, lau sy và trên vài sườn đi có nhng đám thông và tùng.

Dòng nước chy theo nhiu li, có khi là nhng dòng sui nước chy xiết, có khi là nhng ao h sâu n mình dưới mt lp tho mc rm rp.

Hình dáng mp mô ca cao nguyên tht là l lùng! Tôi leo lên mt trong năm đnh núi. Mt cnh quan kỳ diu hin ra trước mt tôi. 150 đi núi xanh rn ging như mt thúng cam khng l.

… Tôi nhn thy gió trên cao nguyên thi vào tháng 6 t Bc sang Đông và thi d di t Đông sang Tây vào tháng 11, trong mùa lnh.

Cui cùng, không th nào quên mt nét đp tht mê hn trên cao nguyên bao la này: Ăn Krô-ét (Ankroët) vi rng thông mênh mông và thác nước kỳ l cao 15m, nước tuôn xi x. Rt tiếc, v trí nơi đây quá hp không cho phép xây dng nhng công trình quan trng.

Theo các nhà địa chất, núi Lang Bi-an hình thành do vận động tạo sơn nhưng theo truyền thuyết của người Lạch (Lat, Lạt, Làc, M’ Lates,…) và người Srê (Xrê, Sré), núi Lang Bi-an do một con heo rừng tạo nên. Truyện cổ kể rằng:

Khởi thủy có địa ngục (Bờ-r Ting, Brating hay Brah Ting). Ở địa ngục, K’Bùng tạo ra tất cả: đất, đá, động vật, con người, những nhân vật đầu tiên được tôn là thần thánh.

Thế rồi K’Bùng và những nhân vật do K’Bùng tạo nên đi ra khỏi địa ngục để làm nên trời và đất.

K’Bùng lấy một cái búa nhỏ rèn thành trái đất, lấy một cái búa ngắn rèn thành trời. Trời đất cưới nhau sinh ra con đàn cháu đống về sau.

K’Bùng lấy từ địa ngục lên một trái bầu đựng đất màu mỡ và bảy gùi lớn đựng đất khô khan, đất màu mỡ cho lúa, đất khô khan chỉ là đất. K’Bùng và cộng sự không những tạo ra mặt trời, trăng, sao mà còn làm ra lục lạc cho ngựa, chuông cho trâu,…

K’Bùng tạo ra con kiến, con rắn, con chim sẻ trắng. K’Bùng cột một sợi chỉ vào chân con chim rồi cho bay đi khắp nơi để đánh dấu đất. Chim dừng lại trên một ngọn núi K’Bùng muốn tạo ra. K’Bùng đánh dấu nơi này và tạo ra đỉnh núi Lang Bi-an. K’Bùng tạo ra con heo rừng giúp K’Bùng đắp đất. Heo rừng dùng mõm ủi đất nhiều và khéo đến nỗi Lang Bi-an trở thành một ngọn núi lớn. K’Bùng tạo nên người khổng lồ ép đất núi tạo ra thác và rắn nước.

K’Bùng mang từ địa ngục một gùi nhỏ đựng hạt chuối rừng, một gùi có nắp đựng hạt tre, một gùi có quai đựng hạt cỏ tranh. Ông cũng mang cả hạt của cây mây, cây dứa, các loài thực vật khác.

K’Bùng tạo ra con nai. Trở về mặt đất, ông mang đất sét đỏ tạo ra những con chim sẻ, con ó từ đất đá, con cọp từ bùn lầy, con heo từ lúa khô, con thỏ từ lúa đông lạnh.

K’Bùng tạo ra tất cả, tạo cả con người (K’Bung mon jo’h, mon chau sól).

Ngày xưa, cây tre không có mắt và chân tay con người chỉ là một khối cứng đơ, không cử động được, không khom lưng được. Con của K’Bùng rất mạnh đã điều chỉnh lại chân tay giúp con người đi lại được. [30, 21 – 22]

Người Chin (Chil, Cil, Cill) cũng có một truyền thuyết về công trình đắp núi Lang Bi-an và nguồn gốc của các dân tộc ở Việt Nam:

Thuở xưa, hai vị thần N’Thup -Thưr và Lãn Dữn đã rèn nên trái đất và dùng phép mầu tạo ra mặt trời, mặt trăng cùng những ngôi sao soi sáng trái đất cả ngày  đêm.

Lúc đầu trái đất còn mềm, sau khô cứng thành đất và đá. Ông bà N’Thup – Thưr và Lãn Dữn lấy đất nặn ra một người đàn ông và một người đàn bà, đặt tên là Ha Nghê và K’Nghe để cai quản trái đất. Hai người này kết duyên với nhau, sinh được một đôi trai gái, con trai đặt tên là Ha Đỏ, con gái tên là K’Dong. Lớn lên, hai người lấy nhau và sinh rất nhiều con cháu.

Ban đầu, tổ tiên loài người chưa biết làm nhà và sống trong hang đá. Cây cỏ, đất cát, nước nôi chưa xuất hiện, họ sống bằng một thứ thuốc đặc biệt và uống nước của con vẹt.

Một hôm, nghe thấy có những tiếng động lạ dưới một hòn đá, họ hè nhau lăn hòn đá sang một bên. Một con cua từ dưới hòn đá bò lên, theo sau là một dòng nước trong suốt chảy ra. Sau đó có rất nhiều vật lạ như lươn, cá, tôm,… cùng theo dòng nước bơi ra. Dòng nước ấy chảy suốt ngày đêm, năm này sang năm khác, không bao giờ ngừng. Nước chảy đến đâu đều xoi mòn đá tạo nên đất cát, đồng bằng và sông ngòi, hồ ao, biển cả. Từ ấy có mưa, cây cối mọc lên xanh tốt và muôn loài khác tự nhiên sinh ra.

Loài người rất sung sướng, họp nhau ca hát, nhảy múa bên dòng nước lạ. Về sau, họ biết trồng tỉa để có lương thực và biết nuôi súc vật để cúng tế thần linh.

Thời gian sau, loài người quá đông đúc, đất đai trồng tỉa không còn đủ nuôi sống tất cả, họ phải phân tán đi kiếm các vùng đất mới. Trước khi chia tay đi bốn phương trời, họ họp bàn cùng nhau làm một cái gì thật cao để con cháu dù đi xa đến đâu cũng trông thấy và có thể tìm đường về quê hương cũ. Mọi người đồng ý bắt chước loài mối tha đất đắp ụ để đắp một quả núi thật cao. Công trình đắp núi vô cùng vất vả, đất mềm càng lên cao càng bị lở, họ phải làm giàn giữ đất và đặt ra tục lệ mỗi khi người con gái đi lấy chồng phải nộp cho nhà trai một số chiêng. Chiêng này úp vào quả núi cho thêm vững chắc. Đắp núi xong, họ đặt tên là  Lang Bi-an rồi phiêu bạt khắp bốn phương trời.

Trong số những gia đình phân tán đi các nơi có sáu chị em gia đình nọ tên là K’Grup, K’Grum, K’Grăm, K’Grô, K’Pac, K’Nghê – K’Nga. Con cháu cô K’Grup sinh ra người Chăm, con cháu cô K’Grum sinh ra người Chu-ru, con cháu cô K’Grăm sinh ra người Chin, con cháu cô K’Grô sinh ra người Cơ-ho, con cháu cô K’Pac sinh ra người Mạ, còn con cháu cô K’Nghê – K’Nga đi xuống đồng bằng sinh ra người Kinh. Vì vậy, người Chăm, người Chu-ru, người Chin, người Mạ, người Cơ-ho và người Kinh đều là anh em.

Về ý nghĩa địa danh Lang Bi-an, truyện cổ của người Chin cho biết về sự tích K’ Lang và Ha Biang, núi Voi và sông Đa Nhim:

Ngày xưa, ở buôn Kon Đố (xã Đưng K’ Nớ, huyện Lạc Dương) có một đôi vợ chồng: người chồng tên là Ha Biang, người vợ tên là K’ Lang.

Một năm nọ, toàn vùng bị hạn hán, Ha Biang lên đường đi kiện trời, nhưng khi đến núi Găng-reo ở huyện Đức Trọng hiện nay thì bị chết đói.

K’ Lang lần theo vết của cây con do Ha Biang đã bẻ đi tìm chồng. Nhìn thấy xác chồng, K’ Lang khóc lóc thảm thiết, vang xa khắp “tám núi, tám sông, tám rừng, tám suối” và bay đến tận trời.

Trời liền sai thần mưa trút nước xuống trần gian nhưng K’ Lang vẫn tiếp tục khóc cho đến chết. Tiếng khóc của K’ Lang làm xúc động con voi đầu đàn. Nó đến che mưa cho K’ Lang và Ha Biang, đứng khóc rồi chết theo Ha Biang và K’ Lang.

Nước mưa hoà cùng nước mắt của K’ Lang và con voi chảy thành sông gọi là sông Đa Nhim (da: nước;nhim: khóc). Các già làng đặt tên cho ngọn núi ở Kon Đố là Lang Biang và núi Găng-reo là núi Voi.

Người Lạch cũng có một truyện cổ về sự thành lập núi Lang Bi-an :

Ngày xưa, đất trên cao nguyên và vùng đồng bằng đều bằng phẳng, chưa có núi cao như bây giờ. Khi mùa lũ đến, nước biển và nước sông tràn ngập cả đất đai, cây xanh không mọc, đất đai bạc màu. Thần Nđu thấy vậy đã làm phép nâng đất cao thành cao nguyên. Nước biển vẫn tràn lên, thần Nđu liền tạo ra nhiều ngọn núi cao thấp nằm gần nhau làm bờ ngăn cản nước, trong đó có hai ngọn núi Lang Bi-an. Ngăn chặn được nước sông và nước biển, cây cỏ xanh tươi, đất đai màu mỡ, thần Nđu giao cho thần rừng tạo ra loài vật để cho cuộc sống thêm vui. [6, 89]

NGƯỜI LCH

Từ xa xưa, trên cao nguyên Lang Bi-an có hai tộc người Chin và Lạch cùng sinh sống, nhưng đông nhất là người Lạch.

Chin còn gọi là cau n’ho (cau: người; n’ho: ngo, thông) có tập quán du canh, du cư, phát rừng, làm rẫy (sa bri: ăn rừng).

Lạch có nghĩa là đồi cỏ:

Jùn ntúat bơh brê làc tus brê dơr

(Con nai chạy từ đồi cỏ vào trong rừng thưa).

Một số tư liệu dịch Lạch là rừng thưa (clairière) hay trảng cỏ (clairière herbacée).

Người Chăm gọi người Lạch, Chin, Srê là Cơ-ho (Cơ Ho, Kơho, K’ Ho) có nghĩa là người miền núi.

Người Lạch sử dụng ngôn ngữ Môn – Khơ-me như người Ba-na, Stiêng, M’ Nông và một số dân tộc ít người khác trên Tây Nguyên.

Gốc người Lạch có các họ: Cil (Chil), Krajan (Krazanh), Liêng Hot, Rơông, Pangting, Dagốt (Dagout), Mebla, Bonding (Bòn Đing), Bonyộ (Bòn Yộ), Lơmbiêng,… Riêng họ Cil còn chia nhiều nhánh: Cil Mup, Cil Damjong,…

Người Lạch có một số họ như người Chin: Cil, Krajan, Liêng Hot, Rơông; riêng họ Cil của người Chin có Cil Pam, Cil Yú,…

Tuy nhiên, người Lạch có các họ mà người Chin không có:  Dagout, Pangting, Rơglê, Mebla, Bonyộ, Bonding.

Ngược lại, có các họ chỉ có trong người Chin, người Lạch không có: Bondưng, Dơnggur, Konsa, Konsơ, Sơao, Sơnơr, Lơmu, Mbon, Bontô, Ntôl, Klong,…

K’ không phải là họ nhưng là một từ đặt trước tên của một nhân vật, có nghĩa như ông, bà, anh, chị trong tiếng Kinh. Ví dụ: K’ Mlơi có nghĩa là ông Mlơi.

Người Chin dùng từ K’ để phân biệt phái: K’ dùng để gọi phái nữ, Ha dùng để gọi phái nam. Người Lạch, người Srê dùng chung từ K’ cho cả nam lẫn nữ. [3, 165]

Trước năm 1954, người Lạch sinh sống trong 7 buôn: Bon Nơr, Bon Đêng (Bon Đing), Bon Dơng, Hàng Kròc (Rơhàng Kròc), Mang Ling và hai buôn Đang Ja. Năm 1954, thung lũng sông Đạ Đờng (Dạ Dờng, Da Deung, Đa Dâng) bị ngập lụt, Bon Dơng và một buôn Đang Ja được tập trung vào một địa điểm mới, trong khi đó vài gia đình chuyển sang Dơng Kriêng, Dà Mpào, Nrèng hay Pơnơr ở các huyện Đức Trọng và Lâm Hà ngày nay. [35, 3]

Hiện nay, người Lạch sống tập trung tại xã Lát (huyện Lạc Dương). Năm 1989, xã Lát có 395 hộ với 4.915 người Lạch. Xã Tà Nung (thành phố Đà Lạt) có khoảng trên 300 người Lạch.

Ngày xưa, đa số người Lạch sống trên vùng đất thấp, màu mỡ, trong các buôn có nhiều nhà dài với nhiều gia đình cùng chung sống.

Buôn làng ít khi có hơn 20 nhà, mỗi nhà có 3 hay 4 hộ. Có hai loại nhà: nhà đắp đất và nhà dài 20 – 25m, cất trên cột cao 2m, không có cửa sổ và ống khói. Dưới sàn nhà, họ nuôi trâu, heo, gà,… Ngựa được nhốt trong chuồng giống như chiếc hộp khép kín để tránh cọp thỉnh thoảng đi kiếm mồi.

Mái nhà lợp một lớp tranh dày. Trên trần nhà, người Lạch cất thóc, bắp, dây mây, thịt trâu, heo, nai xông khói. Hạt giống được cất giữ trong những chiếc giỏ bằng mây.

Buôn làng là đơn vị hành chính quan trọng nhất. Người có quyền lực cao nhất trong buôn là trưởng buôn hay chủ làng (kuang bon) được chọn không phải do thể lực nhưng do sự hiểu biết về phong tục, tập quán và luật lệ. Ngoài ra còn có một hội đồng già làng gồm chủ nhà (pô hiu) và tộc trưởng (kumy). Hội đồng họp với sự tham gia của trưởng buôn để giải quyết những trường hợp nghiêm trọng. Vì lợi ích chung, nhiều buôn có thể hợp tác với nhau và chọn người đứng đầu liên minh (roklong).

Luật tục (nri) là những câu thơ ca truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong luật tục của người Lạch không có án tù và tử hình. Người Lạch tin rằng khi con người phạm lỗi là không hoà đồng với thiên nhiên và động đến thần linh. Để không bị thần linh nổi giận trừng phạt, người phạm lỗi phải hiến sinh và nộp phạt. [70, 389, 395, 415 – 416]

Người Lạch có thân hình cân đối, nước da ngăm đen, tóc dài, mắt tinh. Họ luôn nhìn thẳng và hay cười. Họ cà răng, không dùng đũa nhưng ăn bốc và hay hút thuốc lá trong ống điếu.

Lỗ tai người phụ nữ đeo vòng bằng ngà voi hay thiếc lớn dần theo năm tháng, có khi nặng đến 500 gam. Cổ tay và cổ chân đeo vòng phát ra tiếng động khi bước đi. Đây là dấu hiệu của sự giàu sang.

Trẻ em đeo kiềng và vòng với những chiếc lục lạc.

Đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy làm bằng một mảnh vải quấn ngang thắt lưng.

Người Lạch rất trung thực, chất phác, giữ lời hứa, dũng cảm và hiếu khách.

“Jơi gloh cô tm, hm cô năc

(Chủ đói để cho khách no).

Khi khách đến làng, họ mang chuối, cơm, gà, trứng,… đãi khách. Trưởng buôn đem ra một ché rượu, cắm một chiếc cần và mời khách uống. Chiếc cần được chuyền cho người này đến người khác. Trưởng buôn đôi lúc đổ thêm nước vào ché rượu, rượu ngày càng nhạt dần.

Họ rất ân hận khi không tiếp khách được chu đáo:

Trôêh  kòn prôm bl b te làng

Trôêh kòn prôm bl bàng te lă

Iêr kuang kră te bôh

Rơpu kuang yôh te pơnt

(Khách đến nhà chiếu trải không đủ

Khách đến nhà không có chiếu quý để trải

Khách đến nhà không có gà trống để nướng

Không có trâu đực để làm thịt mời khách).

Tuy y học còn thô sơ nhưng người Lạch biết sử dụng cây thuốc để chữa bệnh. Trong một số trường hợp, họ phải cúng bái. Người phụ trách cúng bái là thầy cúng (gru) nam hay nữ phục vụ cho nhiều buôn. Thông qua các vị thần linh, thầy cúng xác định bệnh tình, cho biết tên thần linh gây bệnh và lễ vật phải cúng tế.

Cuối thế kỷ XIX, bác sĩ Étienne Tardif đã được dân làng mời đến thăm một người dân bị bệnh nặng ở Bon Dơng (Bandone) gần Đăng Gia trên cao nguyên Lang Bi-an kể lại:

“Khi đến nhà, tôi thy trên chòi đu và chân mt con trâu va mi b giết. Người ta cho tôi biết đây là con trâu th ba cúng thn linh t khi bnh bt đu. Vào trong nhà, khói la cúng thn linh xông lên khó chu. Quanh ngn la, dân làng ăn và ung rượu. Thnh thong, mt người kéo mt si dây ct vào mái nhà làm cho nhng chiếc bùa và lc lc vang lên. Cùng lúc trng chiêng đánh lên và người trong nhà la hét đ xua đui ma qu đang nhp vào xác người bnh. Bnh nhân b st rét nng nm cnh đng la.

Khi mt người trong làng chết trong mt thi gian ngn do mt căn bnh không rõ, dân làng di buôn sang nơi khác.” [50, 107 – 124]

Trong xã hội người Lạch, người phụ nữ sở hữu và thừa hưởng tài sản, đề khởi hôn lễ và truyền tên dòng họ gia đình cho con cái. Nam giới lo việc cày bừa, trồng trọt, thu hoạch, săn bắn, bắt cá và đan lát; người phụ nữ nấu cơm, chế biến rượu, dệt thổ cẩm và chăm sóc con cái. Vào mùa đông, săn bắn và bắt cá chiếm phần lớn thời gian của nam giới; vào mùa xuân và mùa hè, hoạt động chính là nông nghiệp.

Một ngày trong buôn diễn ra như sau:

Từ sáng sớm, người vợ thức dậy nấu cơm và dở cơm trưa.

Sau bữa ăn sáng, hai vợ chồng người nào việc nấy tùy theo mùa và ngày trong tháng.

Đến tối, người chồng trở về nhà, người vợ lại chuẩn bị cơm nước.

Sau bữa ăn tối, dân làng ca hát, kể chuyện cổ tích và trò chuyện đến khuya.

Thỉnh thoảng, các lễ hội, ma chay, hôn lễ làm thay đổi cuộc sống thường ngày.

Cũng như các tộc người Cơ-ho khác, người Lạch theo chế độ mẫu hệ, một vợ, một chồng. Họ cũng được phép đa thê nhưng rất hiếm, chỉ xảy ra trong các gia đình giàu có hay trưởng buôn. Hôn nhân giữa các thành viên trong cùng một dòng họ bị coi  là loạn luân và cấm triệt để.

Người phụ nữ kén chồng (kup bao: bắt chồng) trong những người cùng buôn hay buôn lân cận. Một thầy cúng đứng ra chủ lễ thành hôn, cầu nguyện thần linh gia hộ cho đôi lứa. Trong trường hợp không có thầy cúng thì mẹ của cô dâu chủ lễ. Gia đình cô dâu giết trâu, heo, gà và lấy máu động vật hiến sinh trộn với rượu bôi vào chân cô dâu, chú rể.

Sau đó, chú rể ở lại lao động trong nhà cô dâu, chịu sự lãnh đạo của người lớn tuổi nhất trong gia đình nhà vợ. Nếu người vợ chết, người chồng có thể trở về nhà cha mẹ nhưng con cái ở lại nhà mẹ.

Sự gian dâm là một trọng tội và bị phạt rất nặng. Kẻ có tội phải nộp phạt cho gia đình, trưởng buôn, già làng và giết sinh vật để tạ tội với thần linh.

Người Lạch cũng được phép ly dị nhưng phải có lý do và được trưởng buôn, già làng cho phép. Nếu vợ hay chồng bị tố cáo là tà dâm, bất lực, lười biếng hay mâu thuẫn không giải quyết được thì hai họ họp lại bàn bạc với sự tham dự của chức sắc trong buôn. Người chồng không được cưới vợ lẽ nếu không được phép của người vợ cả. Người vợ lẽ bị đối xử như người ở và người chồng phải ở trong gia đình người vợ cả.

Nếu vợ hay chồng trốn nhà ra đi, cha mẹ vợ hay chồng phải nộp phạt một con trâu.

Khi bà mẹ chuyển bụng, người cha mời bà đỡ (m boai) đến giúp và ở lại trong nhà ba ngày sau khi đứa bé ra đời. Người cha cúng một con gà, một ché rượu và trả cho bà mụ một cái kiềng, một vòng bạc và một chiếc chăn.

Nếu bà mẹ đẻ khó, một bà đỡ thứ hai được mời đến.

Nếu bà mẹ vẫn chưa đẻ được, người cha mời bà đỡ thứ ba (m boai giac). Bà đỡ này có nhiều kinh nghiệm nhưng rất hiếm, 5 hay 6 buôn mới có một người.

Trong trường hợp đẻ khó, gia đình phải cúng heo, dê, trâu và rượu.

Đại gia đình người Lạch rất thương yêu, chăm sóc trẻ em, không bao giờ bỏ rơi trẻ em. Trẻ mồ côi được gia đình bên mẹ nuôi nấng, thỉnh thoảng người hàng xóm nuôi, dạy dỗ và đối xử như con ruột.

Trẻ em rất được quý mến; con gái được chuộng hơn con trai vì nhờ con gái về sau sẽ có thêm chàng rể, tăng thêm người lao động trong gia đình.

Trẻ em được giáo dục về sự đối xử với cha mẹ, các thành viên trong gia đình và phong tục buôn làng, chuẩn bị cho các em trở thành người lớn. Con trai được dạy về nghề nông, săn bắn, bắt cá, trong khi con gái học những công việc hằng ngày của người phụ nữ: nấu ăn, dệt thổ cẩm và chăm sóc các em nhỏ.

Người con gái út ở lại trong gia đình để chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già. Tuy nhiên, nếu người chị cả sống với cha mẹ, người con gái út có thể rời khỏi gia đình. Nếu người chị cả mất trước khi cha mẹ từ trần, người con gái út phải trở về chăm sóc cha mẹ. Con cái không bao giờ không phụng dưỡng cha mẹ.

Người Lạch chia trường hợp chết thành hai loại: chết tự nhiên và chết vì tai ương (tai nạn, bất đắc kỳ tử hay khi lọt lòng mẹ) do thần linh gây ra. Như các tộc người khác trên Tây Nguyên, người Lạch sợ phải chết xa buôn làng.

Người chết được tắm rửa và mặc y phục đẹp nhất. Nếu chết vào buổi tối, một con trâu, một con heo và một con gà được hiến tế. Nếu chết vào sáng sớm, lễ hiến tế được tổ chức ngay. Nếu chết vào ban ngày, lễ hiến tế được tổ chức vào lúc hoàng hôn.

Trong dịp ma chay, bạn bè và người thân của người chết đến viếng thăm, mang theo trâu, heo, gà và những ché rượu để dân làng cùng hưởng. Người lớn uống rượu trước, sau đó đến thanh niên và cuối cùng là phụ nữ.

Lễ an táng được cử hành vào ngày thứ ba hay thứ tư sau ngày chết. Các ché rượu, ly chén được đập vỡ, bỏ vào một cái giỏ cùng với lễ vật và đặt gần mộ. Thân nhân người chết cũng đặt lên mộ một con gà, không giết gà nhưng để cho nó chết dần. Thân nhân tiếp tục mang thức ăn đến cho người chết trong vòng một năm, sau đó mới bỏ mả. Một số gia đình dựng nhà mồ trên mộ người thân.

Vợ chồng phải chịu tang trong một năm. Người chồng có thể cưới vợ khác sau thời kỳ chịu tang nếu gia đình vợ đồng ý hay người chồng lấy em gái vợ.

Tài sản được chia cho nữ giới. Trong gia đình có ba người con gái thì người chị cả được hưởng 3/10 gia tài, người thứ hai 2/10 và cô gái út được nửa gia tài vì cô gái út chịu trách nhiệm trả tổn phí lễ tang và giữ gìn mồ mả. Nếu ba chị em cùng ở trong một nhà thì cùng chịu trách nhiệm về lễ tang, sự kế thừa và các khoản chi tiêu trong gia đình được phân chia đồng đều.

*

Từ xa xưa, người Lạch chọn khu rừng rồi hạ cây, phát rẫy (mir) và đến cuối mùa khô họ đốt rẫy.

Trên mặt đất còn nóng và đầy tro, họ nhanh chóng gieo hạt bắp, lúa rẫy, bí, bầu, đậu,…. Người đàn ông đi trước, tay cầm một hay hai cây gậy có đầu nhọn chọc xuống đất với khoảng cách đều nhau. Người phụ nữ đi theo sau, tra hạt vào lỗ.

Sau 1, 2, 3 hay 4 năm, tuỳ theo tình trạng cạn kiệt của đất, người Lạch bỏ rẫy đi phát tiếp một khu rừng khác. Nếu đất tốt, cây rừng mọc lại thì 15 hay 20 năm sau, họ trở về tiếp tục phát rẫy. Nạn đốt rừng đã khiến cho nhiều khu rừng trở thành những ngọn đồi trơ trụi.

Về sau, người Lạch học được từ người Chu-ru kỹ thuật trồng lúa nước. Trong các thung lũng, dọc các dòng suối, họ cày bừa, sạ lúa và đào mương dẫn nước vào ruộng. Họ biết tận dụng sức nước và gió để chế tạo những công cụ xua đuổi thú rừng phá hoại mùa màng.

Người Lạch nuôi heo, gà, trâu, ngựa,… Con trâu là động vật linh thiêng nhất dùng trong tế lễ. Đối với thần linh, con trâu hiến tế thay mặt cho con người. Sau khi cúng tế, thịt trâu được chia cho thân nhân trong gia đình và dân làng như một hình thức đoàn kết trong cộng đồng. Heo, gà cũng được dùng trong cúng tế nhưng giá trị kém hơn trâu.

Người Lạch nuôi heo và đem xuống vùng đồng bằng để đổi muối. Cao nguyên Lang Bi-an hoàn toàn thiếu muối và món quà họ ưa thích nhất là muối. [70, 399 – 405]

Nuôi ngựa là một đặc điểm độc đáo của người Lạch. Ngựa không những là phương tiện đi lại, chuyên chở thích hợp ở vùng đồi núi nhấp nhô mà còn là hàng hoá để buôn bán với các cư dân khác trong vùng. [13, 183]

Người Lạch đan chiếu, trang trí vải dệt thổ cẩm, đồ dùng (con dao, hộp đựng thuốc lá, ống điếu,…), đồ trang sức (vòng bạc,…) với những nét thẳng, hình thoi, ô vuông, chữ chi,…hoa văn đa dạng trình bày hình ảnh mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, vảy đồi mồi, cối giã gạo, mỏ chim, bó tranh lợp nhà, cánh con ruồi, răng con trâu, con dế,… [27, 1.072 – 1.074]

Vào mùa khô, khi công việc nhà nông tạm dừng, người Lạch tổ chức thành từng đoàn đi xuống vùng đồng bằng Phan Rang, Nha Trang để trao đổi hàng hoá. Họ đổi da thú vật, heo,…lấy vải, muối, sắt, ché, chiêng,… Những chuyến đi xuống vùng duyên hải kéo dài vài tuần.

Chân đạp đất, lưng nặng trĩu hàng hoá, họ leo đồi, tuột dốc, đi ngang qua những khu rừng và chống chọi với thú dữ bằng dáo, mác và cung tên.

Thác ghềnh, sông rộng không ngăn chặn được bước chân của họ. Họ chọn những khúc sông suối cạn để vượt qua. Gặp những khúc sông suối sâu, họ kết bè hay dùng thuyền độc mộc. Họ cũng biết dùng phà cột với sợi dây mây dài hơn trăm mét. Đôi khi họ hạ cây cao bắc cầu qua suối.

Tài sản quý giá nhất là con trâu (rpu) dùng để cày bừa hay tế thần. Kế đến là ché (drap) và chiêng (cing).

Ché được xếp thành hàng dọc theo tường hay treo trên trần nhà. Các chiếc ché cổ giá rất cao, đổi được nhiều con trâu. Ché được xem là vật thiêng, vị thần hộ mạng. Nhiều lễ hội được tổ chức trong và sau khi mua bán ché, cũng như nhập ché vào nhà.

Giá trị của chiêng thay đổi tuỳ kích thước, hình dáng và nhất là nguồn gốc, tuổi tác, âm thanh. Giá trị hàng hoá được tính theo lưỡi cuốc, lưỡi rìu, chiều dài của sừng trâu, vòng ngực của con heo, thùng lúa, bắp, chăn, nồi niêu, ché, chiêng, đồ trang sức,…

*

Người Lạch tin vào thần linh. Vị thần cao nhất là Nđu. Truyện cổ kể rằng Nđu ăn cắp một hạt lúa từ địa ngục đem lên cho loài người nhưng lúa lại trở về tảng đá, nơi ngự trị của Mẹ Lúa (Me Kuê). Nđu mời Mẹ Lúa cùng đi nhưng bị chặn lối, Mẹ Lúa không lên được. Nđu ra lệnh cho con kiến đào đất để ăn cắp hạt lúa nằm dưới tảng đá. Bảy con kiến làm việc và mang được các giống lúa lên mặt đất. Sau đó, heo, vịt, gà, dê, trâu, rượu cũng lần lượt lên mặt đất. Nđu và Mẹ Lúa dạy con người biết trồng lúa và ăn cơm với thịt nai, heo, trâu, gà, cá.

Dưới thần Nđu có thần mặt trời (Yàng Tơngê), mặt trăng (Yàng Konghai), mặt đất (Yàng Tiêh), bu tri (Yàng Tr) và sm sét (Yàng Dong Rong, Yàng Tơrnàih). Vô s thn linh ngự trị trong thiên nhiên: các ngọn núi, khu rừng, dòng suối, tảng đá, động vật như con cọp, các đồ vật trong buôn hay trong nhà: cổng buôn, dụng cụ, ché rượu,…

Ngoài các vị thần (Yàng) còn có ma quỷ (c, ca) gây ra tai nạn, bệnh tật và chết chóc.

Hai vị thần quan trọng nhất là thần núi và thần nước. Thần cây cối giàu lòng từ thiện chịu trách nhiệm về lúa, bông vải và các vật liệu xây dựng.

Thần lúa (Yàng Kuê) giữ một vị trí đặc biệt vì là vị thần nuôi dưỡng con người. Thần lúa thường liên kết với thần đất (Kuê – Ú). Thần đất cũng được nhân cách hoá và sánh với người mẹ nên người Lạch thường gọi Mẹ Đất (Me Ú).

Trong lời khấn đọc bằng tiếng Chu-ru trong lễ nghi nông nghiệp còn nhắc đến thần Alăc -Alăn

“…to ra đt, tri, con người và muôn vt

to ra ln nái, thóc lúa

to ra ché nh

to ra ché ln

to ra con bò

to ra con trâu

to ra chiêng ln và con trâu nh

to ra chiêng ln và con trâu tơ.

Người Lạch kiêng nhắc đến tên cúng cơm của cha mẹ, không nói khát nước vì sẽ không có nước để uống, không nói ruộng lúa tốt vì sẽ bị mất mùa, không được phá tổ kiến.

Trong một số trường hợp, nhà cửa cũng bị kiêng cữ, không cho người ngoài vào nhà trong 7 ngày sau khi nhà có người sinh nở, 3 hay 7 ngày sau khi cúng tế và một thời gian ngắn khi người bệnh uống thuốc. Kho thóc cũng bị cấm, người ngoài không được vào.

Mỗi buôn có một khu rừng thiêng (Yàng Bri) – nơi ngự trị của thần linh. Dân làng không được chặt cây vì thần linh sẽ trả thù bằng cách gây dịch bệnh, ốm đau hay chết.

Người Lạch tin có ngày tốt, ngày xấu. Ngày lẻ là ngày tốt, ngày chẵn là ngày xấu. Tre phải chặt trong ngày lẻ. Thời gian tốt nhất để gieo mạ là ngày thứ nhất hay ngày thứ ba của tuần trăng thượng huyền hay các ngày thứ 1, 3, 5, 7, 9 của tuần trăng hạ huyền. Những chuyến đi buôn cũng phải khởi hành vào ngày lẻ. Vào những ngày lẻ, nếu đi câu hay bắt cá, săn bắn sẽ thu được kết quả tốt hơn. Vào ngày cuối cùng của tháng âm lịch, không được ra đồng làm việc.

Tháng cũng có tháng tốt, tháng xấu. Tháng 5 là tháng tốt nhất để gieo trồng và tháng 8 là tháng xấu nhất trong nghề nông.

Người Lạch cũng hay đoán mộng:

Nếu nằm ngủ mơ thấy uống rượu có nghĩa là ngày mai trời sẽ mưa;

mơ thấy người chết : mất mùa;

bắt gà : ngày mai sẽ bắt được nhiều cá;

con trâu chết, nai bị giết : trong làng sẽ có người chết.

Một số giấc mơ có ý nghĩa trái ngược: nếu mơ thấy giàu sẽ nghèo, nếu mơ thấy mạnh khoẻ sẽ mắc bệnh. [27, 1.191 – 1.193]

*

Lễ hội có liên quan đến chu kỳ nông nghiệp và đời sống cư dân. Lễ hội quan trọng nhất là lễ đón năm mới (lir bong). Thời gian tổ chức lễ hội thay đổi từ buôn này đến buôn khác, nhưng thường vào mùa xuân, từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5, kéo dài từ 4 đến 5 ngày.

Buổi sáng ngày đầu tiên, dân làng uống rượu rồi đâm trâu. Số lượng trâu là 3, 4 hay 5 con tuỳ theo buôn giàu hay nghèo. Đầu trâu và 4 chân được đặt trên chòi để cúng thần linh. Sau khi cạo lông trâu, dân làng xẻ thân trâu ra thành nhiều miếng và nướng trên đống lửa.

Lễ hội diễn ra trong tiếng trống chiêng vang rền.

Những ngày hôm sau cũng tiếp tục như ngày đầu tiên. Dân làng cũng không quên người chết, mang ra mộ thức ăn và rượu.

Từ khi sạ đến khi gặt lúa, người Lạch tiến hành nhiều lễ nghi.

Lễ sạ lúa (kuê ) đánh dấu thời kỳ cây lúa cùng sống với đất mẹ. Người ta dựng một cây nêu cao 1,1 – 1,3m làm bằng tre có đầu ngọn chẻ đôi, đặt ở mảnh đất đầu tiên cuối nguồn nước. Trên đầu cây nêu có treo các vật cúng: thịt gà, các cây pơndàng và dêng rồ để gọi lúa về và tăng năng suất.

Con trâu rất được kính trọng vì rất cần thiết trong nông nghiệp. Con trâu được hiến sinh khi con cái muốn tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ và nhất là khi mắc bệnh nặng. Sau khi cày bừa, người Lạch cử hành lễ tôn vinh trâu tổ chức ở trước nhà vào buổi chiều.

Người ta rửa cổ trâu vì cổ trâu phải đeo ách. Con trâu được xức rượu cần và máu gà. Người chủ nhà khấn thần trâu chữa lành vết thương cho trâu, đàn trâu được khoẻ mạnh, không bị dịch bệnh và xin thần linh tha thứ cho con người phải bắt trâu làm việc.

Khi cây lúa ngậm sữa (kuê bôn), người Lạch lại tiến hành lễ nghi khác. Nhiều loại cây nêu được dựng lên để các thần linh chú ý.

Một ngày trước khi gặt, người Lạch cử hành lễ lúa chín (kuê dôm). Người ta gặt vài bông lúa, đặt trên ruộng và khoảnh đất đập lúa để báo với thần linh sẽ gặt lúa và thần linh không ngăn cản. Trong dịp này, người Lạch kiêng cữ không cho mang thịt nai đến và ăn thịt nai vì con nai phá lúa.

Trước khi đập lúa, người Lạch giết gà và đổ rượu lên mặt đất để giữ thần lúa ở lại.

Khi lúa đã đập xong và thóc chất thành đống, người Lạch cử hành lễ nghi mời thần linh ăn cháo (huê yàng sih dà pòr).

Sau đó là lễ đưa thần lúa về nhà (nu truê rơhae).

Lễ nghi nông nghiệp cuối cùng là lễ mừng lúa mới (p b kuê). Lễ này rất đơn giản, người Lạch chỉ cúng hai quả trứng và khấn cầu thần lúa.

Lời cầu nguyện khi sạ lúa, khi lúa ngậm sữa và lễ hội ngày mùa được đọc bằng tiếng Chu-ru.

Ngoài những câu ca ngợi thần linh, người hành lễ nhắc đi nhắc lại những câu mời thần lúa:

“đến ăn

đến ung

đến hát

t hôm nay đến mai sau

t hôm nay đến mãi mãi

và xin thần linh:

“Con cu xin bình an

Con cu xin mnh gii

Con cu xin t do

cho mi người và muôn loài.

Con cu xin mt trăm gùi thóc

mt ngàn gùi thóc

mt triu gùi thóc

mt t gùi thóc

nhà con đy thóc

Con cu mong tr kho s gãy vì lúa nng

… “Mi người sng trong nhà

và tt c dân trong buôn

Xin Người cu h khi chết

cu h khi đói

cu h khi bnh

cu h khi gp điu xu

Xin Người theo dõi chúng con

phù h chúng con

… “Xin Người biến nhng người nghèo thành giàu

Xin Người cho nhng người yếu sc mnh”.

Lời cầu nguyện khi đập lúa và nhập thóc vào kho được đọc bằng tiếng Lạch:

“Hi lúa trên tri cao

Hi lúa trên mt trăng

Hi lúa trên các vì sao

Hi lúa ca gió

Hi lúa trong các tia chp

Con xin gi v

Hi lúa b gió thi

Hi lúa b ngâm nước mưa

Hi lúa b chim ăn

Hi lúa b chim s m

Hi lúa b chim cu gáy thu lượm

Con xin gi v

Hi lúa đã b đi vì cãi ln vi cha

Hi lúa đã b đi vì gây g vi m

Hi lúa đã b đi vì lưỡi dao và lim con đã dùng khi gt lúa

Hi lúa đã b đi vì s các v thn con đã mi v

Hi lúa đã b đi vì s các v thn đã đánh nhau trong ba tic

Hi lúa mà dân làng khiếp s

Con xin gi v

… “Hi lúa Jrơi Dng ca buôn Tơl hng

Hi lúa Bng ca buôn Kơnjàn

Hi lúa Suàn ca buôn Bng-dêng

Hi lúa Sêng ca buôn Lc-dng

Con xin khn cu

… “Nếu Người mt, xin Người đến đây ngh ngơi

Nếu Người đói, xin Người mãi nơi đây

Nếu Người quá mt vì đi xa, xin Người ngh ngơi nơi đây

Hi lúa!

… “Hãy xung đây đ ung

Hãy xung đây đ ăn

Hãy xung đây đ nhy múa

Hãy xung đây đ ca hát

… “Nếu Người là mt trăm, con xin Người đến đây

Nếu Người là by trăm, con xin Người đến đây

Nếu Người là năm trăm, con xin Người đến đây

Con xin mi, hi lúa phương Bc

Con xin mi, hi lúa phương Nam

Cu xin đy gùi khi mt tri mc

Cu xin lúa giã trong qu bu lên men

Cu xin rượu trong ché lên men và rui đ trng

…“Khi mt tri mc, xin Người đến đây ăn

Khi mt tri lên cao, xin Người đến đây ăn

Khi mt tri ln, xin Người đến đây xum hp

…“Xin Người li vi con

li rt đông

li đến khi sinh n” [39, 3 – 77]

*

Cũng như người Cơ-ho khác, kho tàng văn học dân gian của người Lạch rất phong phú gồm có ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cổ và các ca khúc.

“Ngal rl ai yt pơntài

Sre bà ai dà pơ yuai

Rơpu jè ai gai atòng”.

(Cày không ăn đất thì dùng dây cho dài

Ruộng không ướt phải cho nước vào

Trâu không đi thì lấy roi quất).

Nhiều câu tục ngữ dạy cách cư xử, đề cập đến phong tục, tập quán hay nhận xét về các hiện tượng thiên nhiên, các điều mê tín, dị đoan:

Nếu về đêm ngôi sao sáng, hôm sau trời sẽ nắng; nếu ngôi sao nhấp nháy, trời sẽ mưa.

Nếu trên đường đi anh thấy một con rắn, anh sẽ tìm thấy những gì anh muốn tìm.

Nếu con chó sinh ra 3 con chó con, đi săn nai rất tốt;

Nếu con chó sinh ra 2 con chó con, đi săn chuột rất tốt.

Thỉnh thoảng người Lạch nói ngược hay bóng gió. Ví dụ: Nếu một người nói đi kiếm củi trên núi có nghĩa là anh đi săn nai. Nếu người ấy nói: “Tre đã sẵn sàng, anh đốn đi!” có nghĩa là rượu đã sẵn sàng, mời anh uống.

Trong thời gian nhàn rỗi, người Lạch thường đố nhau:

Cây đuốc gì mạnh đến nỗi chiếu sáng cả vũ trụ?

Tr li: Mt trăng

Trái gì màu đỏ, người ta không thể sờ mó và cầm trong tay?

Ngn la

Người nào môi mấp máy nhưng thân không động đậy?

Thy cúng

Con rắn đi đêm đi ngày, đố là cái gì?

Dòng nước

Cô bé nho nhỏ nhưng ai cũng kêu đau?

Con mui

Mình còn sống mà đã lo đeo hòm?

Con sâu

Truyện cổ của người Lạch đôi khi rất dài, kể hết đêm này sang đêm khác. Truyện cổ có thể chia thành 5 loại:

– Truyện kể về nguồn gốc các đồ vật và vũ trụ;

– Sự tích các anh hùng huyền thoại;

– Truyện kể về các nhân vật có những hành động kỳ diệu;

– Truyện ma quỷ (ca) hay truyện người hoá cọp (somri);

– Truyện loài vật.

Trong truyện cổ, loài vật cũng có cuộc sống như loài người. Chúng có nhà, buôn làng, đồng ruộng, nông cụ, sống theo bộ tộc với phong tục, tập quán, ngôn ngữ như con người. Chúng cũng giã gạo, sử dụng vũ khí, giáo, mác, dao găm, khiên, đánh chiêng, đánh trống,…[30, 184]

Người Lạch rất yêu thích âm nhạc. Họ cất lên tiếng hát khi giã gạo, kéo cưa, múa, sinh hoạt gia đình, giao lưu bè bạn,… với những câu hát ngắn, lặp đi lặp lại nhiều lần, diễn tả niềm vui, nỗi buồn, nạn đói,…

Nhạc cụ có nhiều loại: sáo 4 lỗ (kơwao), sáo pnung bòc dùng trong lễ tang, sáo bầu 4 lỗ (kơrkhuk, barê), khèn bầu (kơmbuôt, komboat) với 6 ống cắm vào một quả bầu tạo thành thùng cộng hưởng, đàn môi(gọch, toung), đàn dây (rơding) làm bằng tre, trống (sơgơr, sơnggơr) bt 2 đu bng da nai hay trâu tơ,...

Chiêng đồng rất quý, trị giá bằng 8 hay 10 con trâu cái. 2, 3, 4 hay 6 người dùng nắm tay tấu chiêng, tạo ra những hoà âm: sol, la (tấu 2 chiêng); sol, la, si (tấu 3 chiêng); fa, sol, la, si (tấu 4 chiêng); si, ré, fa, sol, la, si (tấu 6 chiêng) [27, 1.078 – 1.080]

Đ LCH

Theo một số cụ già người Lạch, suối Cam Ly chảy qua thành phố Đà Lạt có 3 đoạn mang 3 tên khác nhau:

– Từ thượng nguồn đến ao Pàng Đờng (Tơnau Pàng Dòng) ở vị trí hồ Than Thở ngày nay, dòng suối mang tên Dà Pàng Dòng (Pàng: ông; Dòng: lớn);

– Từ ao Pàng Đờng đến thác Liêng Tô Sra (nay là thác Cam Ly), dòng suối mang tên Đạ Lạch (Dà Làc);

– Từ thác Liêng Tô Sra đến sông Đạ Đờng, dòng suối mang tên ông Mlơi (K’ Mlơi).

Về sau, K’ Mlơi nói trại thành Cam Ly, Đạ Lạch thành Đà Lạt.

Đạ (dà) chỉ chất lỏng và có nhiều nghĩa:

– nước (Anh nhô dà : tôi uống nước);

– suối (Dà K’ Mlơi : suối Cam Ly);

– dòng nước (Dà Dờng : dòng nước lớn, sông);

– dầu (Dà ồs : dầu lửa);

– nhựa (Dà chi : nhựa cây);

-…

Trong nhật ký ngày 21-6-1893, bác sĩ Yersin (Y-e-xen) không ghi tên buôn Đạ Lạch, chỉ ghi tên buôn Đăng Kia. Đăng Kia là buôn lớn nhất trên cao nguyên Lang Bi-an lúc bấy giờ.

Trên bản đồ Đông Dương in trong hồi ký của Toàn quyền Paul Doumer (Pôn Đu-me), không thấy ghiDalat nhưng có địa danh Dangkia. [29, 336]

Năm 1881, bác sĩ Paul Néis (Pôn Nê-ítx) đã lên cao nguyên Lang Bi-an và cho biết trong hai ngày 16-3-1881 và 7-4-1881 ông đã đến làng Lạch (village de Late).

Năm 1899, bác sĩ Tardif từ trên dãy núi Lang Bi-an đã nhìn thấy:

“Hình dáng mp mô ca cao nguyên tht là l lùng! Tôi leo lên mt trong năm đnh núi. Mt cnh quan kỳ diu hin ra trước mt tôi. 150 đi núi xanh rn ging như mt thúng cam khng l. Trong vùng núi đi trùng đip có vài làng mc: phía Nam, Đà Lt (Dalat); hơi chếch v hướng Tây, Đăng Gia (Dang Gia) và Ăn Krô-ét (Ankroet); dưới chân núi, B Nơ (Beneur). Xa xa, v hướng Đông là dãy núi Nha Trang; v phía Nam, hoành sơn ca thung lũng sông Đng Nai; v phía Tây và Tây Nam, nhng đnh núi cao ca Căm-pu-chia”.[50, 36]

Năm 1905, trong một dịp lên cao nguyên Lang Bi-an để thay đổi không khí, bà Gabrielle M. Vassal (Ga-bri-en-lơ M. Vát-xan) đã viết về cao nguyên:

“Vào khong gia trưa, tôi thy cao nguyên ln đu tiên. Tht là mt s phát hin bt ng, khác vi nhng gì trước đây tôi đã tng nghĩ! Trên mt vùng đt rng là nhng ngn đi tròn, nh, trơ tri, mc đy c thp, cùng hình dáng và đ cao, quang cnh ging như mt vùng bin gn sóng xanh. gia, nhng đnh núi Lang Bi-an cao vòi vi như hòn đo đá. Đăng Kia (Dankia) nm dưới chân núi Lang Bi-an, phía bên kia cao nguyên. Cao nguyên bình yên và êm du quá! Ch có thông mc trong nhng thung lũng gia các ngn đi.

Xa xa, nhng mái nhà g Đà Lt (Dalat) nm cách xa nhau trên đnh hay lưng chng đi lp lánh dưới ánh mt tri”. [69, 212]

Trong bản báo cáo về chuyến khảo sát bệnh sốt rét trên cao nguyên Lang Bi-an từ ngày 16-7 đến ngày 2-9-1905, bác sĩ Vassal công tác tại Viện Pasteur (Pa-xtơ) Nha Trang có nhắc đến các làng: Dalat, Dankia, Beneur, Ankroet, Numbor.

Hiện nay có những ý kiến khác nhau về buôn làng ở Đà Lạt.

* Trước thế kỷ XX, trên địa bàn Đà Lạt có nhiều buôn ở các vị trí sau:

BON VỊ TRÍ HIỆN NAY
Yộ

Rhàng Bon Ỵô

Klir Towach

Dàgut

Rhàng Pàng Mly

Mang Linh

Mho Prềnn

Đồi trường Cao Đẳng Sư phạm Đà Lạt

Học viện Lục Quân

Khóm (ấp) Hồng Lạc

Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng, khóm (ấp) Mỹ Lộc

Chân thác Cam Ly

Sân bay Cam Ly

Dọc suối Prenn

* Đầu thế kỷ XX, ở Đà Lạt có nhiều buôn ở các địa điểm hiện nay là: Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng,  gần thác Cam Ly, đường Phan Bội Châu,… buôn lớn nhất là Bon Yộä ở trên đồi Trường Cao đẳng Sư phạm hiện nay. Vì ở gần suối Đạ Lạch nên Bon Yộ còn gọi là Bon Đạ Lạch (Bon Dà Làc).

Cư dân buôn Đạ Lạch trồng lúa nước dọc theo suối Đạ Lạch. Năm 1919, Hồ Lớn (hồ Xuân Hương ngày nay) được xây dựng, ruộng lúa nằm trong lòng hồ, người Lạch ở buôn Đạ Lạch phải dời đến Bon Rơhàng Kròc (Rơhàng: buôn cũ; kròc: cam; plê kròc: trái cam; người Pháp phiên âm là Ankroet). Đến năm 1942, khi xây dựng đập Suối Vàng, người Lạch lại phải dời đến buôn Đơng Tiang Đe (Tiang: đuôi, đe: con chuột) ở trung tâm huyện Lạc Dương hiện nay.

Theo ý kiến này, Đà Lạt không những mang tên dòng suối Đạ Lạch nhưng còn mang tên buôn Đạ Lạch như  thành phố Buôn Ma Thuột (Buôn: làng; Ama: cha; Thuột: tên người con), Plây Cu (Plei: buôn làng; ku: đuôi) hay các thị trấn: Đạ M’Ri (dà: nước, suối,…; tam: trong; bri: rng), Đc Nông (Đc Lc), Đc Sút, Đc Tô (Công Tum),…

NGƯỜI KINH TRÊN CAO NGUYÊN LANG BI-AN

Ngày xưa, Lâm Đồng nói chung, cao nguyên Lang Bi-an nói riêng vẫn còn rất hoang vu.

Đi Nam nht thng chí xuất bản dưới triều Nguyễn cho biết:

Di Dinh th ph có 20 buôn: Phí Bà Nam, Băng Dng, Giang Trang, Phi Chân, Phi L, Băng Trang, Tầm Bạch, Thẩm Luật, Bàn Tấu, La Miên, Năm Luân, Giang Tre, Băng Bí Thuỷ, Băng Bí Hoả, Lưu Miên, Băng Trinh, Năng Duy, Phí Cố, Chân Dựng, Phi Chinh (1).

 
Đoạn Di Dinh thổ phủ trong Đại Nam nhất thống chí

Tư liệu có nhắc đến một dòng sông:”Tây hữu Dã Dương giang bt thâm nhi qung, trung đa ngc ngư (Ở phía Tây có sông Dã Dương (2) không sâu mà rộng, trong đó có nhiều cá sấu).

Tư liệu còn giới thiệu về sinh hoạt cư dân ở hai bên bờ sông này: Ở phía Nam sông, người Hoa thỉnh thoảng có đi lại buôn bán. Ở phía Bắc sông, ít có ai đến. Năm Tự Đức thứ 19, triều đình có phái người đi thăm dò nhưng vì người Thượng sợ tránh, không dám dẫn đường nên phải trở về. [3]

Năm 1877, trong thời gian làm Dinh điền sứ tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Thông (1826 – 1894) – một sĩ phu yêu nước – đã tổ chức thám hiểm vùng đất giữa ba con sông: La Ngà, Đạ Hu-oai và Đồng Nai với dự định lập đồn điền khai khẩn vùng thượng du. Ông đã phái Nguyễn Văn Trị, Sĩ Văn Long, Dương Văn Long và Hoàng Phú đến sông Đạ Đờng để xem xét tình thế. Trong tờ sớ dâng lên vua Tự Đức ngày 11 tháng 8 năm Tự Đức thứ 30 (17-9-1877), ông viết:

“Ngày mùng 8 tháng 6 thì đến sông ln Đ Đưng, rng khong năm sáu mươi trượng, nước đc ngu, gia có đo dài. Người Man gi nước là “đ”, ln là “đưng”, cũng như người Vit nói là “sông ln”. Đ Đưng, người Vit gi là sông Dã Dương, h lưu là sông ln Thn Quy. T sách Man Mê-pu đi đến sông Tô S, dc đường phn nhiu là núi cao, t Côn Hiên đến sông Đ Đưng đu là đt bng, đa thế rng rãi, khong khoát, có th khám xét đ lp đn đin khn hoang.”[2, 197]

Cao nguyên Lang Bi-an là một vùng ma thiêng nước độc, người Kinh không dám định cư bên kia sông Krong Pha, chỉ dừng lại ở Xóm Gòn (gần Krong-pha, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận hiện nay) vì cọp beo, rắn rết và nhất là bệnh sốt rét rừng.

Ông Canivey (Ca-ni-vây) là một người Pháp đã sống trên cao nguyên Lang Bi-an để thu thuế.

Năm 1905, trong bữa ăn trưa ở nhà ông Canivey tại Đà Lạt, bà Gabrielle M. Vassal đã được nghe vợ chồng ông Canivey kể một câu chuyện về cọp xảy ra 4 năm về trước:

“Hôm y, cách nhà không xa, v chng ông Canivey thy mt con cp bìa rng. Ông Canivey giơ súng lên bn. Con cp b thương gm thét chy vào rng. Mt người lính Vit xách súng cùng ông đui theo. Xuyên qua cành cây, bà Canivey thy con cp dùng hai chân trước v vào vai ca chng bà và ngm khu súng. Người lính tiến gn li và n súng vào đu con cp. Con vt rng lên và ngã qu xung đt. Bà Canivey chy đến, thy chng bà máu me đy mình. Ông đi b v nhà, nhưng lúc by gi không có bác sĩ, ông phi nm mê man my ngày lin. Bà vn còn hãi hùng khi nghe cp gm v đêm.” [69, 213 – 214]

Năm 1907, chồng bà Gabrielle – bác sĩ J.J.Vassal – cho biết:

“Người Kinh chưa đnh cư trên nhng vùng cao ca dãy Trường Sơn. Đà Lt có mt nhóm 60 đến 80 người Kinh, hu hết là nhng người đi buôn chuyến. H sng trong nhng điu kin rt kh cc, mc ít áo qun như vùng đng bng, b lnh, thiếu dinh dưỡng và không có gia đình. T Phan Rang hay Phan Thiết lên cao nguyên, vi nhng gánh hàng hoá, h đi ngang qua nhng làng mc đy nước đc, nhng vùng rt nguy him và mc phi bnh st rét.”[51, 358]

Một số tư liệu viết về hồ Than Thở thường nhắc đến câu chuyện tưởng tượng Hoàng Tùng – Mai Nương:

Hoàng Tùng chia tay Mai Nương bên bờ hồ Than Thở, ra đi theo nghĩa quân Tây Sơn. Nghe tin Hoàng Tùng tử trận, Mai Nương nhảy xuống hồ tự vẫn. Mấy tháng sau, Hoàng Tùng trở về nhưng Mai Nương không còn nữa. Khi nghe tin triều đại Tây Sơn sụp đổ,  Hoàng Tùng buồn bã nhảy xuống hồ chết theo Mai Nương. Do đó hồ này về sau gọi là hồ Than Thở.

Vào thời Tây Sơn, người Việt chưa định cư trên cao nguyên Lang Bi-an, ở vị trí của hồ Than Thở hiện nay chỉ có một cái ao nhỏ (Tơnau Pàng Dòng).

Năm 1920, người Pháp cho đắp đập chặn nước tạo thành hồ   cung cấp nước sinh hoạt cho một phần thành phố Đà Lạt.

Nhận thấy vùng này rất hoang vu, chỉ nghe tiếng gió rì rào qua kẽ lá tạo thành một khúc nhạc buồn, người Pháp mới đặt tên là Lac des Soupirs.

Từ điển Petit Larousse xuất bản năm 1965, trang 983, định nghĩa chữ SOUPIR như sau:

SOUPIR: Respiration forte et prolongée, occasionnée par la douleur, une émotion.

Poét. Son doux et mélancolique: les soupirs du vent dans les bois.

Rendre le dernier soupir: mourir.

Mus. Pause qui équivaut à une noire.

Tạm dịch:

1. Sự thở mạnh và kéo dài khi đau đớn, xúc cảm.

2. Trong thơ, tiếng động êm dịu và du dương: tiếng gió thổi trong rừng.

3. Thở hơi cuối cùng: chết.

4. Trong âm nhạc, dấu nghỉ tương đương với nốt đen.

Như vậy, nghĩa thứ hai (tiếng gió thi trong rng) là đúng nhất. Nhưng Lac des Soupirs khi dịch sang tiếng Việt nếu dịch là h Rì Rào, h Gió thi trong rng không thuận nên đành dịch theo nghĩa thứ nhất:hồ Than Th.

 


Lịch sử cây chè tại Việt Nam

Bạn có biết cây chè có ở Việt Nam từ bao giờ không?

1. Lịch sử cây chè tại Việt Nam.

Về nguồn gốc cây Chè Việt Nam

Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng :cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc.

Cây chè Suối Giàng

Lê Quý Đôn trong sách ” Vân Đài loại ngữ ” (1773) có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau:

” … Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên…”

Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ.

” Hàng ngày những đoàn thồ lớn 100-200 con lừa, chất đầy muối và gạo khi đi và nặng chĩu chè khi về. Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp .cho Hoàng đế Trung Hoa. Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường..; và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn. Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang, vùng Xíp xoongpảnnả “

Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam (1923), và tây nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết “…những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam. “

Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catésin trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An…), đã viết :

… Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam…. Từ đó có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới sau đây ” Camellia → Chè Việt Nam → Chè Vân Nam lá to → Chè Trung Quốc → Chè Assam (ấn Độ)”

Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận : Đại thể cây chè phát nguyên từ một vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 95o đến 120o Đông, trục Bắc Nam từ vĩ đ 29o đến 11o Bắc.

Sự phát triển của cây Chè Việt Nam

a/ Thời kỳ trước năm 1882

Từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại hình:

– Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng chè dồng bằng sông Hồng ở Hà đông, chè đồi ở Nghệ An.

– Chè rừng vùng núi, uống chè mạn, lên men một nửa, như vùng Hà Giang, Bắc Hà …

b/ Thời kỳ 1882-1945

Ngoài 2 loại chè trên, xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp; chè đen công nghệ truyền thống OTD, và chè xanh sao chảo Trung Quốc. Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ hiện đại. Người dân Việt Nam, sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh điền. Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường Bắc Phi là chủ yếu. Diện tích chè cả nước là 13305 ha, sản lượng 6.000 tấn chè khô/năm.

c/ Thời kỳ độc lập (1945- nay)

Sau 1954, Nhà nước xây dựng các Nông trường quốc doanh và Hợp tác xã nông nghiệp trồng chè; chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô – Đông Âu, và chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc.

Đến hết năm 2002, tổng diện tích chè là 108.000 ha, trong đó có 87.000 ha chè kinh doanh. Tổng số lượng chè sản xuất 98.000 tấn, trong đó xuất khẩu 72.000 tấn đạt 82 triệu USD.

Các vùng Chè ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông nam á, cái nôi của cây chè.

– Khí hậu đất đai rất thích hợp với sinh trưởng cây chè. Lượng nước mưa dồi dào 1700-2000 mm/năm. nhiệt độ 21-22,6 0C, ẩm độ không khí 80-85 %. Đất đai trồng chè gồm 2 loại phiến thạch sét và bazan màu mỡ.

– Chè trồng ở vĩ tuyến B 11.5-22.5 0;, chia thành 3 vùng: vùng thấp dưới 300 m, vùng giữa 300-600 m, vùng cao 600-trên 1000 m, nên chất lượng chè rất tốt.

– Giống chè bản địa gồm 2 giống Trung Du và Shan, làm được chè xanh và chè đen; đặc biệt giống chè Shan miền núi có búp nhiều lông tuyết trắng, được thị trường quốc tế rất ưa chuộng. Ngoài ra còn những giống chè tốt làm chè đen, chè xanh, chè ô long, nhập nội của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, ấn Độ và Srilanka, Inđônêxia.

( Trích từ “Cây chè Việt Nam” của tác giả Đỗ Ngọc Quỹ & Nguyễn Kim Phong )

Clip – Những ngôi nhà ma Đà Lạt và những câu chuyện về ngôi nhà ma

Những ngôi nhà ma tại Đà Lạt phần 01
Những ngôi nhà ma tại Đà Lạt phần 02
Những ngôi nhà ma tại Đà Lạt phần 03
Bí Mật Căn Nhà Ma tại Đèo Prenn
– Những mảng mây mù rơi xuống bao trùm lên ngôi nhà cũ hoang vắng, rêu phong. Đang giữa ban ngày nhưng nơi đây tuyệt nhiên không một bóng người. Ngôi nhà lồ lộ hiện ra…

Cái chết của những cô gái trẻ

Nằm trên đỉnh một quả đồi thông ở đầu đèo Prenn, cửa ngõ vào TP Đà Lạt, ngôi nhà không lớn lắm nhưng được xây dựng theo một kiến trúc đặc biệt. Thoáng nhìn cũng đủ biết ngôi nhà này đã bị bỏ hoang nhiều năm nay, những bậc thềm đá dẫn lên nhà rêu mọc xanh rì, nhiều bậc đã bị bong lở.

Trong căn nhà tối om, lạnh ngắt, ông quản gia tên Mạnh thủ thỉ bên tai tôi những câu chuyện hãi hùng về lịch sử ngôi nhà ma. Ông kể, ngôi nhà này vốn được một tên quan người Pháp xây dựng từ năm 1914, cho đến nay đã trải qua 6 lần thay tên đổi chủ.

Ngôi nhà với những câu chuyện ma được thêu dệt ly kỳ

Hiện ngôi nhà này do công ty Dầu khí Bà Rịa – Vũng Tàu mua lại và thuê ông quản lý đã gần chục năm nay. Ông cho biết, mấy đời chủ trước tuy là nhà của mình nhưng không hiểu vì lý do gì mà không ai dám ở trong ngôi nhà này lâu. Họ truyền tai nhau rằng trong ngôi nhà có ma…

Đời chủ đầu tiên là một quan chức người Pháp xây dựng ngôi nhà này với mục đích tạo thành điểm ăn chơi. Hằng đêm đều mời bạn bè, trai gái đến tụ tập uống rượu thâu đêm suốt sáng, rồi đàn đúm trác táng, chẳng bao lâu nơi đây đã biến thành một vũ trường. Rồi một ngày nọ, có cô gái trẻ đẹp được viên chức người Pháp mời đến nhà chơi. Khi hắn đòi giở trò đồi bại, cô gái đã chống trả quyết liệt, nhảy từ trên lầu hai xuống đất hòng trốn thoát nhưng chẳng may đập đầu vào viên đá phía dưới rồi chết. Một thời gian sau, tên chủ nhà người Pháp này bị giết chết rất dã man.

Những người sống lâu năm ở Đà Lạt còn rỉ tai nhau rằng, có một cô gái trẻ ở Vũng Tàu bị người yêu ruồng bỏ, tinh thần hoàn toàn suy sụp. Thấy vậy, gia đình đưa cô gái này lên Đà Lạt an dưỡng. Trong một lần đến thăm ngôi nhà trên, không hiểu sao cô lại tỏ ra rất thích thú rồi đòi gia đình mua lại ngôi nhà này bằng được rồi sống ở đó một mình. Một tháng sau người ta phát hiện cô gái nọ đã thắt cổ chết tại phòng mình.

Chiếc giếng nơi người con gái gieo mình xuống tự vẫn

Sau đó không lâu, một cô gái khác bị người tình bỏ rơi trong lúc đang mang thai cũng tìm đến ngôi nhà này rồi gieo mình xuống giếng tự vẫn. Ông Mạnh cho biết: “Cô gái này rất thiêng, có một đoàn khách đi du lịch đã lập am thờ và cầu nguyện cho cô ấy rồi đấy. Cô gái nhập vào một người trong đoàn nói rằng: Tên của cô là Hằng, bị chết năm 19 tuổi”. Nói đến đây, ông Mạnh kéo tay tôi ra ngoài rừng thông chỉ về phía cái giếng: “Không tin chú cứ ra đó mà coi, giếng vẫn còn đó”. Miệng giếng nhỏ, gối lên một gốc thông to nằm hắt hiu ở góc vườn hoang vắng.

Thấy tôi tỏ vẻ sợ hãi, ông Mạnh tiếp lời: “Đã vào hồi hay nhất đâu mà sợ dữ vậy, chú cứ ngồi đây ông kể hết cho mà nghe, chuyện ly kỳ lắm!.. Số người Pháp ngày xưa chết ở đây rất nhiều, không biết bao nhiêu mà kể, còn người Việt Nam chết ở đây ít nhất là bảy trong đó có ba trẻ sơ sinh vừa chào đời đã mất hiện đang chôn phía sau đồi, bốn cô gái trẻ trong đó hai cô tự tử và hai cô bị giết..”.

Sự thật về người con gái vẫy xe ban đêm

Không biết là thật hay người đời “sáng tác” nên, chuyện kể rằng, thỉnh thoảng vào ban đêm, hoặc khi trời tang tảng sáng, cánh tài xế chạy xe tải qua đây thường bắt gặp một cô gái bận bộ đồ trắng toát từ phía dưới giếng đi ra vẫy xe xin đi nhờ.

Đã có tài xế tưởng người bằng xương bằng thịt, dừng lại đón. Họ thấy rõ ràng cô ấy đã bước lên xe và còn nói cười huyên thuyên gì đó. Thế nhưng, vụt một cái, chỗ ghế nơi cô ngồi bỗng nhiên trống tênh. Rồi tiếng cười văng vẳng, ai oán từ phía sau vọng lại. Người tài xế nọ phải một phen hú vía!…

Những người sống lâu năm ở Đà Lạt còn kháo nhau rằng, khi chưa có người đến trông coi ngôi nhà này, vào ban đêm trong căn nhà hoang ấy họ thường nghe có tiếng súng nổ, sau đó có bóng một cô gái trẻ mặc toàn đồ trắng đi lại trên thềm nhà, trên tay bồng một đứa bé mới chào đời và khóc sướt mướt. Có đêm họ lại nghe tiếng ru con não nề từ phía ngôi nhà hoang vọng lại.

Trong căn nhà hoang lạnh một am thờ đựơc lập nên

Đem vấn đề hãi hùng này hỏi một người dân sống cách ngôi nhà ma không xa, anh này cho biết: “Những chuyện về quá khứ thì tôi không rõ lắm, nhưng bảo hằng đêm có tiếng súng nổ, cô gái đi lại, khóc lóc, ru con… tôi ở đây mấy chục năm nay chưa bao giờ thấy!…”.

Anh Nguyễn Văn Bảy, một công nhân làm việc gần đó cũng cho biết: “Nghe người ta đồn này, đồn nọ, tôi cũng tò mò, có hôm nữa đêm tôi lên ngôi nhà đó tìm hiểu thực hư ra sao mà đâu có thấy gì”.

Trao đổi với PV về vấn đề này, ông Đỗ Văn Thể – Giám Đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Lâm Đồng cũng khẳng định: “Chúng tôi chưa bao giờ nghe thấy những chuyện ma mãnh như vậy. Đây rõ ràng là một chuyện hoang đường, không có thật. Đà Lạt cũng chẳng có ngôi nhà nào gọi là ngôi nhà ma cả”.

Đã có những chuyện kể về các oan hồn trong những ngôi biệt thự bỏ hoang ở Đà Lạt. Rất nhiều người quả quyết nói rằng họ đã tận mắt chứng kiến “người cõi âm” hiện về.

Phần lớn những câu chuyện kể về ma có liên quan đến cái chết của những cô gái trẻ thật ly kỳ, rùng rợn. Nhiều người phải dọn nhà đi nơi khác sống, không dám đến gần những “ngôi nhà ma” ấy. Chúng tôi đã mất 3 đêm “tìm ma” trong những ngôi biệt thự rất lạnh lẽo và hoang vắng…Oan hồn những thiếu nữ? Căn biệt thự nằm trên đường Trần Hưng Đạo theo kiến trúc Pháp rất đẹp, nhưng đang xuống cấp trầm trọng, cửa nẻo tan hoang. Người ta đồn rằng, bước vào ngôi nhà ấy, tự nhiên người có cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống. Mặc dù bỏ hoang không người ở, nhưng người đi đường thỉnh thoảng nghe thấy tiếng nói, cười. Tiếng khóc phát ra i ỉ, i ỉ… lúc dồn dập, lúc ngắt quãng. Căn nhà không hề có điện, thế mà ban đêm, đi ngang qua đây, người ta vẫn nhìn thấy ánh sáng điện mờ mờ phát ra trong ngôi nhà.

Ở một căn khác liền kề, chỉ cách chừng hơn 10 m, có người kể thấy những dải lụa trắng thỉnh thoảng bay lất phất, nhưng khi đến gần thì không nhìn thấy nữa, nhưng nếu đứng từ xa trông vào thì rõ mồn một. Một “căn nhà ma” khác nằm ngay trong lòng thành phố là biệt thự số 10 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, được xây dựng từ năm 1949, làm dinh thự của tướng Bình Xuyên – Bảy Viễn. Sau là trụ sở Cục Thuế Cao Nguyên. Theo bà Huệ, người từng sống ở đây và làm quản gia cho gia đình Bảy Viễn, thì ban ngày, biệt thự này yên bình, ấm cúng, không có gì, nhưng ban đêm thì dễ sợ lắm!

Bà Huệ kể: ngày bà ở đó, Bảy Viễn vì sống xa gia đình nên chỉ có một mình. Nhiều đêm, ông ta đi chưa về, bà nằm ngủ ở lầu trên để vừa quan sát, canh chừng nhà cửa vừa chờ ông ấy về, bà vẫn thường nghe thấy những tiếng gõ cửa “lốc cốc, lốc cốc” khô khốc vang lên. Biết không phải là cách gọi cửa của ông chủ, bởi thường thì ông ấy hoặc khách đến thì phải bấm chuông nên bà không ra mở cửa, chỉ hỏi vọng xuống: “Ai đó?”. Không có tiếng trả lời, nhưng bà nghe rõ tiếng bước chân người đi lại. Đánh liều, có lần bà mở cửa ra coi thì không thấy người, chỉ nghe tiếng gió lùa thộc vào nhà, dù nhiều khi bên ngoài trời lặng gió.

Khi bà xuống lầu dưới ngủ thì trong phòng tắm ở lầu trên, mặc dù cửa khóa, chìa bà cầm trong tay nhưng vẫn nghe tiếng xối nước ào ào rõ ràng như có người đang tắm. Những âm thanh kỳ quái đó cứ diễn ra cả đêm khiến bà không tài nào chợp mắt. Bà Huệ kể đó là oan hồn của một cô gái. Cô ta bị giết chết khi đang tắm chờ chồng về. Chồng cô vốn là một quan Pháp, thất thểu trở về vào một đêm, điên cuồng rút súng bắn cô vợ yêu chết rồi tự sát. Cũng theo lời đồn phía bên hông căn biệt thự có một cây thông rất to. Một đôi nam nữ trẻ bị điên thường “thay ca” nhau đến chơi với cây thông nói chuyện rì rầm với cái gốc cây không biết chán, rồi khóc, cười, nhảy nhót… Một hôm người ta cưa cây thông đi, cậu con trai cứ ôm đầu kêu đau quằn quại và khi cây thông vừa bị cưa đứt thì cậu ta cũng tắt thở. Còn cô gái khi đến thấy cây thông bị cưa đổ, cô ta ngơ ngác cười thật to rồi bỏ đi luôn không quay lại nữa.

Ly kỳ hơn là chuyện hai căn biệt thự trên đèo Prenn. Nằm bên phía tay phải hướng từ TPHCM lên, ngày xưa là của một tên quan ba người Pháp. Hắn nổi tiếng là một kẻ ăn chơi trác táng. Hằng đêm, hắn kéo bạn bè, gái về uống rượu, nhậu nhẹt chơi bời thâu đêm, suốt sáng. Một cô gái rất đẹp làm nghề kỹ nữ được hắn vời đến. Hắn đối xử với cô rất thô bạo. Khi cô gái tìm cách chạy trốn, hắn rút súng chĩa về hướng cô, dọa bắn. Cô gái gieo mình xuống lầu tự tử. Một cô gái khác mang thai tìm đến đây và gieo mình xuống cái giếng sâu trong khuôn viên biệt thự chết.

Nghe kể, cô gái này rất thiêng, có một đoàn khách đi du lịch đã lập am thờ và cầu nguyện cho cô. Cô gái nhập vào một người trong đoàn nói rằng: tên của cô là Hằng, cô bị chết năm 19 tuổi. Lại nghe kể, thỉnh thoảng vào ban đêm, hoặc khi trời tang tảng sáng, các tài xế chạy xe tải qua đây thường bắt gặp một cô gái bận bộ đồ trắng toát từ phía dưới giếng đi lên vẫy xe xin đi nhờ. Đã có tài xế tưởng người bằng xương bằng thịt, dừng lại đón. Họ thấy rõ ràng cô ấy đã bước lên xe và còn nói cười huyên thuyên, thế nhưng, vụt một cái, chỗ ghế nơi cô ngồi bỗng nhiên trống. Người tài xế nọ phải một phen hú vía.


Căn biệt thự đầu đèo cũng được đồn đại là có ma. Không ai biết rõ có cái chết ly kỳ nào trong đó không, nhưng nghe kể ban đêm, trong căn biệt thự này có tiếng súng nổ, bóng một cô gái mặc đồ trắng đi lại, trên tay bồng một đứa trẻ con và khóc. Đã từ lâu, không ai dám bước vào những căn biệt thự này, chúng thật lạnh lẽo, âm u giữa rừng thông. Đêm trong những ngôi nhà “ma”. Để tìm hiểu thực hư, chúng tôi tò mò, bạo gan rủ nhau đi “săn ma”. Suốt 2 đêm, dù đã cố tình quan sát, trở đi, trở lại những biệt thự có “ma” ấy, chúng tôi vẫn không thấy bóng dáng “cô gái mặc áo trắng toát” nào cả. Trong ngôi biệt thự hoang tàn bên đường Trần Hưng Đạo vào những đêm trăng, ánh sáng rọi xuống đúng là trông như một dải lụa trắng. Sương đêm Đà Lạt phủ một lớp mờ ảo ôm lấy căn biệt thự, cùng với ánh đèn đường hắt vào, khiến chúng trở nên bí ẩn trong tiếng côn trùng rả rích. Đến gần những căn biệt thự này, cảm giác ớn lạnh khiến chúng tôi không khỏi rùng mình. Thỉnh thoảng tiếng gió rít ào ào từ ngàn thông vọng vào, bạn bè đi cùng tôi, có đứa bảo nghe như có tiếng ai đó khóc. Có đứa tưởng tượng như đang nghe những bản nhạc du dương.

Trong những căn biệt thự này, trên những bức tường, chúng tôi tìm thấy rất nhiều hình khắc, họa – hoa văn lạ mắt, thường ở nơi cửa hoặc trong phòng ngủ. Ở mỗi căn, hình thù những nét họa lại khác nhau, có hình chìm, hình nổi. Hỏi một số người cao tuổi được biết người phương Tây, cụ thể là người Pháp, cũng mê tín lắm. Đó là những dấu yểm bùa. Các nhà kiến trúc thì bảo, văn hóa của họ thế, đó chỉ là một cách trang trí nhà cửa… Ông Nguyễn Văn Mạnh (63 tuổi), hiện là người bảo vệ, trông coi căn biệt thự dưới đèo, cũng khẳng định những lời đồn đại về 3 cô gái bị chết trong biệt thự này ông có nghe, nhưng “dị bản” khác. Thực hư thế nào ông không biết, nhưng vì biệt thự để lâu, ít người ở lại thêm khí hậu và cảnh quan ở đây (trước ông từng có 2 người làm bảo vệ trông coi căn biệt thự này) nên hoang vắng, lạnh lẽo là phải.

Ông Mạnh cũng bán tín, bán nghi kể rằng: chính ông, một buổi trưa nọ, cũng nghe thấy giọng một cô gái thỏ thẻ bên tai: “Ông ơi, cháu đói bụng quá, ông cho cháu chút gì ăn đi”. Ông Mạnh điếng hồn, và nghĩ ngay đến cô gái chết dưới giếng, nghe đồn rất thiêng. Nhưng, sau định thần lại, ông nghĩ mấy ngày đó ông đang bị bệnh nên thường mê sảng trong những giấc ngủ trưa… Thực hư như thế nào, hiện chúng ta vẫn chưa xác định được. Tuy nhiên, những ngôi nhà đó hầu như chẳng có ai dám vào, và chúng luôn luôn ở trong tình trạng hoang vắng, lạnh lẽo…

Tin đồn cũg chỉ là tin đồn mà thôi….đến Đà Lạt các bạn sẽ hiểu^^

 

Tour du lịch Phan Thiết Đà Lạt- Call: 0934 022 022

CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH PHAN THIẾT – ĐÀ LẠT

(Thời gian: 04 Ngày 03 Đêm; Đi, về bằng ô tô)

NGÀY 01: TP. HỒ CHÍ MINH – PHAN THIẾT

Phan Thiết

05h30:Xe và HDV INTOUR đón quý khách tại điểm hẹn, khởi hành đi Phan Thiết.

07h00:Đoàn dùng điểm tâm sáng tại NH Hưng Phát (Đồng Nai). Tiếp tục lộ trình, trên xe đoàn tham gia các trò chơi vui nhộn, hát cho nhau nghe, thi hát karaoke, nghe thuyết minh về huyền thoại các vùng đất mà đoàn đi qua…

Tháp Chàm Pôshanư

11h30:Đoàn dùng cơm trưa, nghỉ ngơi. Đi Mũi Né Trên đường đi đoàn nghe giới thiệu về tháp Chàm Pôshanư – một công trình kiến trúc văn hóa độc đáo của người Chăm Pa; di tích Lầu Ông Hoàng – nơi ghi dấu mối tình lãng mạn giữa Hàn Mạc Tử và Mộng Cầm. Tham quan rừng dừa Hàm Tiến, bãi đá Ông địa.

Bãi đá Ông địa

12h00:Tới Mũi Né, nhận phòng. Tự do tắm biển, tham gia các trò chơi vận động trên biển: Đưa nước về nguồn, đá bóng tình nhân, kéo co tình yêu; đua ghe ngo trên cạn, bước chân thần tốc, đi tìm nàng tiên cá…

18h00:Quý khách dùng bữa cơm chiều bên người thân trong ánh hoàng hôn nơi phố biển. tối quý kah1ch tham gia chương trình hát Karaoke – Tham gia chương trình “Mừng Sinh Nhật” của những thành viên trong tháng, cùng cắt bánh kem, uống rượu sâm panh. Tự do dạo biển khám phá thành phố Phan Thiết về đêm.

NGÀY 02: ĐỒI CÁT BAY – SUỐI HỒNG – ĐÀ LẠT

Đồi Cát – Suối Hồng

06h00:Dùng điểm tâm sáng, xe đưa quý khách đi tham quan Đồi Cát – Suối Hồng, một tác phẩm tuyệt tác của thiên nhiên, nơi khơi nguồn sáng tạo cho những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng. Về lại KDL tự do tắm biển.

11h00:Dùng cơm trưa, trả phòng. Khởi hành đi Đà Lạt.

16h00:Đoàn đến Đà Lạt, nhận phòng nghỉ ngơi.

Hoa Đà Lạt

 

Hồ Xuân Hương

18h00:Dùng cơm tối. Tư do dạo phố, ngắm cảnh Hồ Xuân Hương trong tiết trời se lạnh của thành phố cao nguyên.

NGÀY 03: ĐÀ LẠT – THÔNG REO

Đồi thông Đà Lạt

06h30:Đoàn dùng điểm tâm sáng, khởi hành tham quan KDL Đồi Mộng Mơ với trích đoạn “Vạn Lý Trường Thành”, tham quan Mộng Mơ Tửu, ngôi nhà Cổ 300 năm; khu tưởng niệm nhà thơ Hàn Mạc Tử và cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn; tham dự chương trình nhạc cồng chiêng Tây Nguyên. Thưởng thúc đặc sản Đà Lạt; Mứt, dâu… (miễn phí).

Đồi Mộng Mơ

XQ xử quán

11h30:Dùng cơm trưa, nghỉ ngơi.

14h30:Tham quan Dinh Bảo Đại (Dinh III), Nhà thờ Dormain de Marie, Thiền Viện Trúc Lâm – Hồ Tuyền Lâm, thác Đatanla

Nhà thờ Dormain de Marie

18h00:Đoàn dùng cơm tối.

18h45:Xe đưa đoàn đi xã Lát thưởng thức thịt rừng, tham gia lửa trại cùng các nghệ sĩ dân tộc Lạch

Xã Lát

(Chi phí không bao gồm).

21h30:Về lại KS, nghỉ ngơi tự do.

NGÀY 04: ĐÀ LẠT – TP. HỒ CHÍ MINH

Chợ Đà Lạt

06h30:Làm thủ tục trả phòng, dùng điểm tâm sáng, xe đưa đoàn đi chợ Đà Lạt, mua sắm đặc sản.

08h30:Khởi hành về Tp. Hồ Chí Minh.

12h00:Dùng cơm trưa tại NH Tâm Châu (Bảo Lộc), thưởng thức trà, café miễn phí.

18h30:Về đến Tp. Hồ Chí Minh, xe đưa đoàn về điểm đón ban đầu. DL INTOUR chia tay quý khách hẹn ngày gặp lại! Kết thúc chuyến tham quan.

GIÁ TRỌN GÓI: 1.039.000đ/khách (Dành cho đoàn trên 40 khách)

Lưu ý: Trẻ em dưới 05 tuổi miễn phí, từ 06 đến 11 tuổi tính ½ giá vé (ngủ chung với bố mẹ)

GIÁ TRÊN BAO GỒM:

– Vận chuyển: Xe DL Huynhdai Aerospace 45 chỗ ngồi, đời mới, máy lạnh.

– Lưu trú: KS/Resort 2* đầy đủ tiện nghi. (Từ 2 – 4 – 6 khách/phòng)

Tại Phan Thiết: Phương Hưng, Lâm Kiều, …

Tại Đà Lạt: KS Tân Sinh Hưng,…

– Ăn uống: Bữa chính: 7 bữa cơm phần, tiêu chuẩn 45.000/bữa (thực đơn đính kèm)

Bữa sáng: 4 bữa: phở, bún, hủ tíu…

– Bảo hiểm du lịch trọn tour: 10.000.000/trường hợp

– HDV: Nhiệt tình, vui vẻ, thuyết minh suốt tuyến.

– Vé tham quan theo chương trình. Khăn lạnh, nước suối chai Aqufina 500ml/khách/ngày; nón DL, thuốc y tế

– Hình lưu niệm tặng đoàn.

GIÁ CHƯA BAO GỒM:

– Thuế VAT

– Chi phí cá nhân ngoài chương trình

Liên hệ Mr Minh: Đặt tour du lịch, Đặt phòng khách sạn, Booking vé máy bay, cho thuê xe du lịch, xe hợp đồng, xe cưới, làm visa, tư vấn đi du lịch, hội nghị, hội thảo khách hàng.

Di động: 0934 022 022 – 0947 50 05 05
Điện thoại: (08) 22 00 33 02 – 39896539

Fax:                 (08) 62958356

Email:             dulich@intour.com.vn – nghiemminh@intour.com.vn

Yahoo:            nhatminh_intour@yahoo.comdangkhaonhien1161981@yahoo.com.vn
Website:       http://www.intour.com.vn

Địa chỉ:          117 o Phan Văn Trị – P. 10 – Q. Gò Vấp – TP. Hồ Chí Minh

INTOUR – VUI TRỌN TOUR!


Tour du lịch Nha Trang- Đà Lạt giá rẻ – Call: 0934 022 022

CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH NHA TRANG – ĐÀ LẠT

(Thời gian: 05 Ngày 04 Đêm; Đi, về bằng Ô Tô)

NGÀY 01: TP. HỒ CHÍ MINH – NHA TRANG

05h30:Xe và HDV INTOUR đón quý khách tại điểm hẹn, khởi hành đi Nha Trang. Dùng điểm tâm sáng tại nhà hàng Hưng Phát (Đồng Nai). Tiếp tục lộ trình trên xe đoàn tham gia các trò chơi vui nhộn, hát cho nhau nghe, thi hát karaoke, nghe thuyết minh về huyền thoại các vùng đất mà đoàn đi qua… Tiếp tục đọc

Ý nghĩa tên gọi các loài hoa

Ý NGHĨA CÁC LOÀI HOA

HOA BƯỚM

Tên tiếng Việt : Hoa Bướm, Păng-xê, Tử La Lan
Tên tiếng Anh : Pansy
Tên tiếng Pháp : Pensée
Tên Latin : ViolatricolorBiệt danh : “Heartsease” – Sự thanh thản
Biểu tượng : Vật kỷ niệm

Ý nghĩa : Tương tư

Thông điệp : Nhớ về em (Thinking of You); Người đã chiếm giữ mọi ý nghĩ của tôi

Người ta thường gởi loài hoa này đến những người gần gũi và thân thiết nhất để nhắc nhớ đến nhau. Loài hoa này có những cánh phẳng xòe rộng, mượt mà như nhung, với nhiều màu sắc rực rỡ. Ngày nay, hoa Bướm thường được trồng trông vườn xuất xứ từ loài hoa Pansy dại, mà thi hào Shakespeare từng gọi ” Tình yêu vu vơ”. Người đời đã yêu mến đặc cho loài hoa này nhiều biệt danh khác nhau, nhưng nổi bật nhất có lẽ là Thanh Thản ( Heartsease), bởi vì người ta tin rằng nếu bạn luôn giữ bên mình những cánh hoa này thì bạn sẽ chắc chắn nhận được tình yêu của người mình yêu… ( chắc mình sẻ chạy ngay đi tìm hoa này để trong mình mới được )

Gửi tặng em hoa Păng-xê tươi trẻ
Vàng như ánh dương, tím tựa trời đêm
Kỷ niệm ùa về khúc hát dịu êm
Bằng ánh sáng rõ ràng và dào dạt
Những giấc mơ hoang những ngày tẻ nhạt
Tiếc núi vô bờ hoài niệm khôn nguôi
Với Păng-xê xin được nói cùng người
Hoa thanh thản một trái tim thi sĩ
Hoa khơi gợi một hướng về suy nghĩ
Hãy nhận và trao yêu quý ngọt ngào

HOA CÁT CÁNH

Thực vật hoc: cây hoa chuông lá tròn
Tên tiếng anh : Bluebell
Ý nghỉa: thủy chung
Cát cánh là một trong các loài hoa dại cứng cổi nhất, chúng thường trở lại một cách thủy chung năm này qua năm khác, và chúng củng mang ý nghĩa của sự bền bỉ là do khả năng tồn tại bền vững… Ở nơi hoang dả loài hoa này  phủ những tấm thảm xanh ngát màu da trời lên cánh rừng vào mỗi độ tháng Năm. Song, chúng sẵn sàng khước từ khi bị chiếm đoạt: những cánh hoa hình quả chuông lay động sẽ nhanh chóng rủ xuống một khi bị hái.
Tên nhóm Endymion lấy theo tên một chàng chăn cừu trẻ đẹp được nữ thần mặt trăng Selene đem lòng thương. Đây là một thiên tình ca đầy thơ mộng trong thần thoại Hy Lạp.
Selene yêu Endymion tha thiết. Endymion lại chẳng hề biết đến tình yêu ấy. Chàng chỉ ước mơ một điều là được trẻ đẹp mãi. Chấp nhận lời khẩn cầu của chàng, thần Zeus đã giáng xuống đôi mắt chàng một giấc ngủ triền miên. Selene được tin rất đổi buồn rầu. Nàng cưỡi cổ xe song mã, cổ xe có đôi ngựa trắng muốt như tuyết xuống trần gian. Nàng đến động Latmos huyền diệu, nơi Endymion đang chìm đắmtrong giấc ngủ vĩnh hằng. Selene ôm lấy chàng những chiếc hôn nồng ấm. Nàng đưa tay vuốt ve người chàng, nằm xuống bên chàng, nghe tiềng tim chàng đập và say sưa uống hơi thở nồng nàng của chàng. Và như thề, hàng đêm, khi bóng tối đả bao phủ trái đất, Selene lại mặc chiếc áo dài trắng muốt, trên mủ cài một lưỡi liềm, lặng lẻ uy nghi đi ngan qua bầu trời. Nàng hiền hòa tỏa ánh trắng bạc xuống trái đất. Khi đã đi khắp vòm trời, nàng lặng lẻ đến cái hang sâu với Endymion. Nàng cuối xuống bên chàng, vuốt ve chàng, nỉ non nhửng lời ân ái.
Năm tháng cứ trôi đi, Endymion vẩn ngủ triền miên còn Selene vẩn giữ mãi mối tình chung thủy, thầm lặng và tuyệt vọng ấy. Vì vậy, ánh sáng của nàng ban đêm chiếu xuống trần gian cũng đượm vẻ mơ màng, buồn bả. Hình như những mối tình thầm lặng và tuyệt vọng đều đẹp, đều êm ái, nhẹ nhàng và bàng bạc như ánh trăng nhưng đều có cái buồn man mác của nử thần Selene…
Hàng năm em trở lại
Trên sân vườn xanh tươi
Bao người qua hờ hững
Em vẩn dời nhớ nhung

CÚC DẠI
Tên tiếng Việt –    Tên tiếng Anh – Tên tiếng Pháp –     Tên Latin –
Hoa cúc kép : Daisy double – Paquerette double – Bellis hortensis – Affection

Hoa cúc đơn : Daisy single – Paquerette simple – Bellis simple – Innocence

Hoa cúc dại : Daisy wild – Marguerite des près – Bellis perennis – Do you love me ?

Ý nghĩa: thơ ngây

Cúc dại là loài hoa nhỏ thường mọc hoang, có những cánh trắng ngần, từ giữa tỏa ra như hình nan hoa quanh một nhụy vàng tươi. Trẻ em thường thích hái hoa cúc dại để kết thành bó hay xâu thành chuỗi. Ở Anh, cúc dại còn được gọi là Baby’s pet hay Bairnwort có nghĩa là hoa của trẻ em.Tên tiếng Anh – Daisy – của loài hoa này bắt nguồn từ một từ Saxon, day’s eye, có nghĩa là “con mắt ban ngày”, có lẽ vì hoa nở cùng với ánh sáng ban mai rồi khép lại những cánh trắng khi chiều xuống.

Theo thần thoại La Mã, bông hoa nhỏ bé này có nguồn gốc từ Belides, một trong các nữ thần chăm sóc các khu rừng. Một hôm, khi Belides đang nhảy múa với người yêu của mình là Ephigeus, cô đã lọt vào mắt xanh của Vertumrus, vị thần cai quản các vườn cây. Để bảo vệ cô khỏi sự săn đuổi này, Flora, nữ chúa các loài hoa, đã biến cô thành một đóa hoa cúc trắng.

Còn theo truyền thuyết của người Ailen cổ, hoa cúc trắng chính là linh hồn những hài nhi đã chết khi vừa mới sinh ra. Chúa rải hoa cúc khắp núi đồi và thảo nguyên, khắp trần gian để làm vơi đi nỗi buồn của những người cha mẹ ấy. Truyền thuyết giải thích tại sao daisy mang ý nghĩa sự trong trắng – ngây thơ.
Người ta tìm thấy rất nhiều hình những bông cúc trên gốm sư Ai Cập cũng như ở những nơi khác suốt vùng Trung Đông. Người Assyria dùng hoa cúc để chữa một số bệnh về mắt. Họ cũng tin rằng, nếu bạn nghiền hoa cúc và trộn chúng với dầu rồi quét lên tóc sẽ làm cho tóc muối tiêu đen trở lại.
Marguerite”-tên tiếng Pháp của hoa cúc, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là hạt ngọc trai “pearl”. Người ta nói rằng, St. Louis đã khắc hình hoa cúc cùng với hoa diên vĩ (fleur-de-lis) và thánh giá trên chiếc nhẫn của ông. Chiếc nhẫn này, theo lời nhà vua, tượng trưng cho tất cả những gì ông yêu quý nhất : tôn giáo, nước Pháp, và vợ ông – Marguerite.
Có một câu nói xưa của người Anh bảo rằng mùa xuân vẫn chưa đến cho tới khi bạn có thể đặt bàn chân mình trên 12 bông cúc. Họ cũng cho là, nếu bạn mơ thấy hoa cúc vào mùa xuân hay mùa hè thì tốt, nhưng nếu vào mùa thu hay mùa đông thì lại là điềm chẳng lành.

He loves me, he loves me not, he loves me…

Nếu một cô gái nhỏ nhắm mắt lại và hái một chùm cúc dại rồi đếm thì số hoa trong chùm hoa đó sẽ là số năm còn lại trước khi cô lấy chồng. Các thiếu nữ cũng thường bói tình yêu bằng cách lần lượt bứt từng cánh của một bông cúc dại đồng thời lập đi lập lại điệp khúc :

“Chàng yêu ta, chàng không yêu ta, chàng yêu ta…”

Xin làm loài hoa cúc dại_nếu là hoa
Diệu dàng khép cánh mỗi chiều tà
Và mỗi sớm mai bừng thức giấc
Đón chào nắng ấm với sương sadịch:

(Nếu có thể trở thành một bông hoa
Xin được hóa thân thành hoa cúc trắng
Khép nhẹ khi hoàng hôn tĩnh lặng
Và nhờ dương đánh thức lúc ban mai
Ta đón chào tia nắng sớm khoan thai
Và đón cả những long lanh nước mắt)(I’d choose to be a Daisy – Khuyết danh)

CÚC VẠN THỌ

Tên tiếng anh: Marigold
Ý nghỉa: U sầu
thuộc nhóm: Calendula

Cúc vạn thọ luôn được liên hệ với cuộc hành trình của vầng thái dương ngang qua bầu trời mỗi ngày, từ 9h sáng tới 3h chiều. Những người dân Anh thời xưa tin rằng họ có thể chỉnh đồng hồ đựa theo thời khắc mà loài Cúc này mở hay khép lại những cánh hao rực rỡ của nó. Cúc vạn thọ thuộc nhóm Calendula hoa nở quanh năm. Còn tên gọi Marigold có lẽ có nghỉa là Mary-gold ( ten gọi của Đức Mẹ Đồng Trinh).
Người đời tin rằng hoa này tượng trưng cho nỗi buồn bởi vì mỗi ngày hoa đều khóc than cho sự ra đi của mặt trời mà vào lúc đó những cánh hoa đành phải khép lại.
Anh như tia nắng mặt trời
Lòng em sưỡi ấm chan hòa tình anh
Hoàng hôn anh đã đi rồi
Cánh hoa khép lại đau sầu riêng ai.

(John Keats, 1795-1821)

DIÊN VĨ

Tên tiếng anh: Iris
ý nghĩa: thiên sứ hạnh phúc


Tiếng Hy Lạp, “Iris” có nghĩa là Cầu Vồng. Trong thần thoại Hy Lạp, Iris là tín sứ của thần Zeus và nàng thường xuất hiện dưới hình một chiếc cầu vồng. Nàng là người đưa tin trên đỉnh Olympus, Iris mang thông điệp của các vị thần linh từ “con mắt Thiên Đường” xuống cho nhân loại trên trái đất qua vòng cung cầu vồng rực rỡ. Từ Iris cũng có nghĩa là “con mắt Thiên Đường” (the eye of Heaven). Iris, như ta đã biết, là tên của một nữ thần Hy Lạp, một loài hoa, và nó còn có nghĩa là tròng đen trong con mắt chúng ta. Điều này ngụ ý rằng mỗi chúng ta đều mang trong mình một mảnh của Thiên Đường. Những người đàn ông Hy Lạp thường trồng hoa Diên Vĩ tím trên mộ những người phụ nữ mà họ yêu thương để tỏ lòng tôn kính nữ thần Iris, người mang sứ mệnh dẫn dắt những linh hồn phụ nữ này đến chốn Thiên Đàng (the Elysian fields).Diên Vĩ là loài cây lưu niên có thân thảo vươn cao, lá hình lưỡi kiếm và những đóa hoa to nhiều màu sắc với ba cánh và ba đài hoa rũ xuống. Có hơn 200 loài hoa Diên Vĩ xinh đẹp khác nhau với các màu xanh da trời nhạt, tím, vàng, trắng, hồng, cam, nâu đỏ…đa dạng như màu sắc cầu vồng. Hoa Diên Vĩ được xem như sứ giả mang đến những điềm lành. niềm hy vọng. Ba cánh hoa Diên Vĩ đại diện cho lòng Trung Thành, sự Khôn Ngoan và lòng Dũng Cảm. Hoa Diên Vĩ vàng là biểu tượng của ngọn lửa và niềm đam mê

Hoa Diên Vĩ đã từng được thấy ở sa mạc, đầm lầy hay cả miền Bắc cực Siberia lạnh giá, nhiều nhất vẫn là ở các vùng khí hậu ôn hòa. Hoa Diên Vĩ thường được vẽ trong những bức tranh tĩnh vật, như của các danh họa Vincent van Gogh, Monet…Có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải và phía Nam Châu Âu, hoa Iris đã từng được những người Hy Lạp cổ đặt trên trán của Nhân Sư và trên vương trượng của đức vua xem như là biểu tượng của quyền lực. Vào năm 1479 trước Công Nguyên, ở Ai Cập, để ghi nhớ chiến công tại Syria, vua Thutmose III đã cho vẽ những bông hoa Diên Vĩ trên bức tường ngôi đền thờ của mình.
Hoa Diên Vĩ đã là biểu tượng của hoàng gia và sự che chở thần thánh suốt hàng thế kỷ trên khắp thế giới. Loài hoa đầy sức thu hút này được rất nhiều người ngưỡng mộ. Các vị vua chúa nước Pháp đã dùng nó làm biểu tượng hoàng gia và gọi nó là Fleur-de-lis. “Fleur-de-lis” có nguồn gốc từ tên “Fleur-de-Louis”, sau thời vua Louis VII, năm 1147. Theo thời gian, tên đó chuyển thành “Fleur-de-luce”, có nghĩa là hoa của ánh sáng (flower of light), cuối cùng đến ngày nay, nó được gọi là “Fleur-de-Lys”, hay Flower of the Lily (Lily : Hoa Huệ Tây, Loa Kèn, Bách Hợp). Fleur-de-Lis đã là biểu tượng của nước Pháp từ thế kỷ 13. Hoàng gia Pháp trang trí hoa Diên Vĩ trên áo choàng, các đồ vật trong cung điện và trên những bức tường như biểu hiện của sự toàn bích, ánh sáng và cuộc sống. Có nhiều truyền thuyết khác nhau giải thích tại sao hoa Diên Vĩ được chế độ quân chủ Pháp chọn làm biểu tượng . Tương truyền rằng, Clovis, vua nước Pháp triều đại Mêrôvê khi đối mặt với đội quân thiện chiến của Alamanni (Đức) đến xâm chiếm vương quốc mình, ông đã nói với hoàng hậu Clotida rằng ông sẽ theo đạo và chịu rửa tội nếu như Chúa phù hộ ông đánh thắng trận đấu này (trước đó hoàng hậu đã nhiều lần khuyên chồng mình vào đạo nhưng ông vẫn không nghe). Cuối cùng, ông thắng thật và nhận fleur-de-lis làm biểu tượng. Tiếp đó, vào thế kỷ 12, vua Louis trở thành hoàng đế nước Pháp đầu tiên khắc họa hoa Diên Vĩ trên chiếc khiên của mình. Nữ anh hùng nước Pháp, Joan of Arc (Jeanne d’Arc) đã mang theo lá cờ trắng có biểu tượng Chúa hộ mệnh của hoàng gia (hoa Diên Vĩ ) khi bà đánh bại quân Anh tại Orléans (1429).

Ở Nhật, hoa Diên Vĩ tượng trưng cho chí khí anh hùng và dòng dõi quý phái. Hoa Diên Vĩ là một phần quan trọng trong lễ hội mùa xuân dành cho các bé trai.

Hãy nở nữa đi loài hoa sang cả
Để dòng sông quanh quẩn hôn chân người
Hãy nở nửa đi loài hoa khúc hát
Cho chốn trần gian này thêm mãi đẹp tươi

Nằm trên cao nguyên Lang Biang với độ cao 1.475m so với mặt nước biển. Đà Lạt vừa cổ kính vừa hiện đại. Thành phố ẩn hiện trong sương mù vào những buổi bình minh, có một nét quyến rũ độc đáo, kỳ ảo.

dalat1

Đến đây, du khách đắm mình trong khí trời quanh năm mát mẻ. Ngồi trên cáp treo ngắm toàn cảnh Đà Lạt, thấp thoáng phía xa tháp chuông nhà thờ vươn lên trên nền những mái ngói đỏ tươi. Đèo Prenn quanh co, ngoạn mục hay dòng nước lấp lánh ánh bạc hồ Tuyền Lâm, núi Langbian – biểu tượng của tình yêu cao cả và Thiền viện Trúc Lâm, trong không gian thanh tịnh, thoang thoảng phấn hương thông, tiếng chuông ngân như xoá tan đi những hư ảo tục lụy. Đến Đà Lạt là bước vào vương quốc của loài hoa với bốn mùa lung linh khoe sắc: dã quỳ, phượng tím, địa lan, cẩm tú cầu, tường vy, thạch thảo, đỗ quyên, bất tử, thủy tiên, rạng đông,cát đằng, trà my, hồng trà,… Với nhiều cảnh quan tươi đẹp, Đà Lạt xứng danh là thành phố du lịch nổi tiếng nhất của Việt Nam.

HOA HỒNG

Hoa hồng gai: Tỏ lòng tốt.
Hoa hồng đỏ: Một tình yêu mảnh liệt và đậm đà, tỏ sự hạnh phúc vinh dự.

Hoa hồng trắng: Tình yêu trong sáng và cao thượng.
Hoa hồng bạch: Ngây thơ duyên dáng và dịu dàng.
Hoa hồng nhung: Tình yêu say đắm và nồng nhiệt.

Hoa hồng vàng: Một tình yêu kiêu sa và rực rỡ. Tình yêu sút giảm và sự phản bội tỏ ý cắt đứt quan hệ.
Hoa hồng phớt: Bắt đầu một tình yêu mơ mộng
Hoa hồng đậm: Người đẹp kiêu kì.
Hoa hồng thắm: Tình yêu nồng cháy.
Hoa hồng cam: Tình yêu hòa lẫn với ghen tuông.
Hoa hồng viền trắng: Tình yêu kín đáo, sâu sắc, sẵn sàng hy sinh cho người mình yêu
Hoa hồng phấn: Sự trìu mến.

HOA CÚC

Cúc (cho các màu nói chung): sự hoan hỉ, vui mừng; bạn là người bạn tuyệt vời
Cúc đỏ tươi: mến yêu mãi mãi
Cúc đỏ: tôi yêu…
Cúc nhiều màu: đang nghĩ về một người bạn vắng mặt
Cúc trắng: lòng tốt, lòng hào hiệp
Cúc trắng: (tình cảm anh dành cho em là) sự thật
Cúc vạn thọ: dỗ dành con tim
Cúc vàng: lời hỏi thăm hàng ngày, kỉ niệm hàng ngày
Cúc vàng: tình yêu nhẹ nhàng
Cúc zinnia: nghĩ về bạn bè

HOA LOA KÈN

Hoa loa kèn màu cam: Sự căm hờn
Hoa loa kèn sư tử loại lớn, có màu đỏ tía hoặc lốm đốm đen: Sự giàu có và kiêu căng
Hoa loa kèn màu trắng: Tượng trưng cho sự trinh nguyên, trong trắng và uy nghiêm. Thật là tuyệt vời khi được ở bên cạnh em.
Hoa loa kèn vàng: Tôi đang đi bộ trên không trung – Một sự sai lầm.

HOA DÃ QUỲ

Tỏ ý thán phục, yêu mến và quí trọng vì đối tượng có nội tâm phong phú. Tỏ ý lòng kiêu hãnh khó khuất phục.

HOA CẨM CHƯỚNG

Cẩm chướng (chung cho các loại cẩm chướng): khế ước mến yêu; sức khoẻ và sinh lực; quyến rũ; tình yêu của phái nữ.
Cẩm chướng có vằn sọc: không; lời từ chối; xin lỗi em không thể hiểu anh; ước gì anh có thể hiểu em
Cẩm chướng đỏ: con tim anh khát khao em; em ngưỡng
Cẩm chướng đơn sắc: em đã chấp nhận; anh đồng ý với em; anh “tuân lệnh” em! Yes!
Cẩm chướng hồng: anh sẽ không bao giờ quên em
Cẩm chướng tía: tính thất thường (đồng bóng); hay thay đổi và kì dị; dễ thay đổi
Cẩm chướng trắng: em của anh thật dịu dàng và đáng yêu; em thật thánh thiện; tình yêu tinh khôi; quà tặng chúc may mắn của phụ nữ
Cẩm chướng vàng: lời từ chối, không thèm anh đâu!

HOA TULIP

Hoa tulíp nói chung: Bày tỏ tình yêu, thắng lợi và đẹp đẽ, biểu tượng người yêu hoàn hảo.
Hoa tulíp vàng: Bày tỏ tình yêu nhưng không hi vọng.
Hoa tulíp trắng: Tỏ lòng yêu quý.
Hoa tulíp đỏ: Tỏ lòng yêu chưa được đáp lại.
Hoa tulíp xanh: Tỏ lòng chân thành

HOA LILY

Hoa Lily thể hiện sự nhiệt huyết, khát vọng, niềm vui

CÁC LOẠI HOA KHÁC

Anh thảo: anh không thể sống thiếu em, tuổi trẻ

Bạch chỉ: cảm hứng (sáng tạo)
Cây hương thảo: vật kỷ niệm, hoài niệm, lời chúc, thăm hỏi
Cây anh thảo ban tối: tính không bền lòng, thiếu kiên nhẫn
Cây bồ công anh trung quốc: ước mơ thành sự thật
Cây cúc tây: tình yêu, love; thanh nhã, sang trọng
Cây dương mai: chỉ dành cho tình yêu
Cây dương sĩ: tình yêu đích thực
Cây khô (họ đỗ quyên): xin hãy vì anh mà giữ gìn sức khoẻ em
Cây mía (thuộc họ sim): tình yêu , theo người do thái biểu tượng của hôn nhân
Cây phong lan: tình yêu; sắc đẹp; tao nhã; cô gái đẹp, biểu tượng trung là đông con
Cây sen cạn: chinh phục, chiến thắng trên trận địa, tình yêu nước
Cây tầm gởi: hôn em đi!; kiss me; cảm giác thương yêu; vượt qua khó khăn, cây thiêng liêng của Ấn Độ

Cây trúc đào: hãy đề phòng, thận trọng nhé
Chanh: điều thú vị
Chuông ái nhĩ lan: chúc may mắn tốt lành
Cỏ ba lá: chúc may mắn
Cỏ chân ngỗng: tình yêu không phai
Cỏ thi: sức khỏe và lành vết thương

Dâm bụt: sắc đẹp tinh tế
Hoa Đâu: biểu tượng sức sống và vĩnh hằng của người Bắc Mỹ – Âu
Đuôi mèo: hòa bình và thịnh vượng
Dương sĩ đuôi chồn: khế ước bí mật của tình yêu

Forget-me-not: tình yêu chân thành, kí ức không phai
Gỗ thông: hi vọng, điều đáng tiếc
Hồng đỏ tươi: tình yêu chúng ta thật ngời sáng
Hồng đỏ và trắng: sống với nhau, đồng lòng với nhau; đoàn tụ, nhất trí
Huệ tây, loa kèn màu cam: căm thù, căm ghét
Húng quế, rau é: những lới chúc tốt đẹp nhất, tình yêu
Hương (dầu) chanh: mang tình yêu đến
Hướng dương: lòng trung thành: nhưng ước muốn
Keo: tình yêu huyền bí
Lá hồng: anh có thể hy vọng
Lá cọ: chiến thắng và thành công
Lan chuông: sự ngọt ngào, trở lại hạnh phúc; sự khiêm tốn.
Lay ơn: tiếng sét ái tình
Lô hội: sầu thảm, thảm bại, thất bại, đau buồn
Loa kèn đỏ: kiêu hãnh, tự hào nhưng bẽn lẽn thẹn thùng.
Loa kèn vàng: anh đang đi trên mây, mò trăng đáy nước
Loa kèn, huệ tây (trắng ngần): ngăn không cho người lạ đến gần
Mạng nhện: hãy trốn với anh (để xây tổ ấm)

Mẫu đơn: kích thích
Mộc lan: sự ngọt ngào, sắc đẹp, tình yêu thiên nhiên
Một đoá hồng đã nở: lòng biết ơn
Một vòng hồng: món quà cho phẩm chất tốt; trao vương miện; biểu tượng của phẩm chất cao quí
Loa kèn trắng: trinh trắng, trinh nguyên, tinh khôi, uy nghi oai vệ, được ở bên em, anh như ở thiên đàng.
Oải hương: hết lòng tận tâm
Phấn ong (phấn do ong tích lại): tình yêu đã trở lại
Rong rêu: tình yêu bên ngoài, lòng nhân từ
Táo: ưu tiên và thiên vị

Thủy tiên và tiếng vang: là một câu chuyện của chàng đẹp trai và một nữ thần, người đã yêu chàng nhưng chàng đã không dành tình yêu cho nàng. Nữ thần tiếng vang đã bị nữ thần juno phạt phải lặp đi lặp lại từ cuối cùng mà tiếng vang đã nghe. Chàng thuỷ tiên cũng bị đày với hình phạt là chỉ yêu lấy hình ảnh của chính mình vì đã hất hủi nàng tiếng vang. Ngày qua ngày chàng đã gầy mòn vì chỉ nhìn vào chính hình bóng của mình ở trong hồ. Khi chàng chết thì chàng đã biến thành loài mang chính tên chàng
Thuỷ tiên vàng: (em tôn trọng) anh
Thủy tiên: tính tự cao tự đại; trang trọng, hãy giữ sự ngọt ngào như anh đã dành cho em, anh nhé!
Tỏi: sức mạnh, dũng cảm
Trái dâu tây: lòng tốt hoàn hảo

Vi ô lét: khiêm tốn; tính tình điềm tĩnh; thuốc ngủ
Vi ô lét trắng: hãy nắm lấy cơ hội làm nên hạnh phúc
Vi ô lét xanh: tính cẩn thận, lòng chung thủy; em luôn là người chân thật
Vòng hồng: phần thưởng cho sự tiết hạnh
Xô đỏ: anh nghĩ về em

Xương rồng: nhẫn nại, ấm cúng endurance; warmth
BỘ SƯU TẬP PHONG LAN

Phong lan là một loài cây sống phụ sinh trên vỏ của các cây thân gỗ trong các cánh rừng già ẩm thấp. Rễ của nó ăn các chất sinh ra từ các lớp rêu mốc bám trên vỏ cây, đồng thời hút nitơ và các khoáng chất trong không khí và hơi nước. Đây là một loài hoa vô cùng phong phú về chủng loại, về hình dạng, màu sắc, khác nhau đến khó tưởng tượng nổi.

Vườn lan trên núi Hàm Rồng có tới hơn 200 loài phong lan với những vẻ đẹp rất độc đáo. Nơi đây sưu tầm đủ các loài phong lan nổi tiếng, có cả những loài thật hiếm, và những giò phong lan lớn tới hàng chục người khiêng. Có những cành hoa dài hơn một mét, có những bông hoa to như cái bát, và có cả những nhánh hoa chỉ dài hơn cái tăm khoe ra những bông hoa nhỏ như cái khuy bấm. Hương thơm từ ngôi vườn phong lan quện theo gió lan ra đến tận chân núi.

Theo công bố vào năm 1987 của nhà nghiên cứu A.L. Takhtajan, người ta đã tìm thấy khoảng 750 chi với 25000 loài phong lan khác nhau trên khắp thế giới, từ Mêhicô tới Ấn Độ và các đảo giữa Thái Bình Dương. Các nhà thực vật học cũng coi phong lan là loài cây cho những kiểu hoa đẹp nhất, cả về hình dáng và màu sắc. Đặc biệt, mỗi loài tuy có một mùi hương thơm riêng biệt, độc đáo nhưng đều có một nét chung là rất tao nhã, nhẹ nhàng, thấm đượm mà các loài hoa khác không thể có được.

Vốn là loài hoa hoang dã, nhưng phong lan lại kiêu sa và khó tính. Mỗi loài phong lan chỉ sống được trên những nền rêu mốc nhất định, chỉ phát triển trong những môi trường có độ ẩm nhất định, có hướng nắng và độ chiếu sáng nhất định, cho nên nó chẳng những rất phong phú về chủng loại mà còn rất khó nuôi và chăm sóc.

Là những cánh rừng nguyên sinh trải rộng trên các dãy núi lớn có độ cao chênh lệch và môi trường sinh thái đa dạng, các khu rừng ở Hoàng Liên Sơn và ở quanh Sa Pa chính là một thiên đường của phong lan. Vào khoảng từ tháng 3 đến tháng 6, phong lan nở khắp rừng và từ bờ suối đến khe sâu đều mát dịu mùi hương của hàng trăm loài phong lan khác nhau…

Ở Sa Pa trước đây, khi các cánh rừng già vẫn còn ôm ấp lấy thị trấn nhỏ bé này thì đến mùa lan nở, người ta chỉ việc đi vài trăm mét là vào tới rừng, tìm chọn lấy những giò lan đẹp nhất mang về treo trong vườn. Trong các tư liệu cũng có nói về một cánh rừng ở ngay sát thị trấn mà trên bản đồ của người Pháp có ghi là rừng phong lan, chắc hẳn là ở đó đã có rất nhiều loài hoa này. Và cũng chỉ vừa mới cách đây vài năm, người dân bản vẫn vào rừng xa, hái phong lan mang ra chợ bán. Các giò lan rừng chất cao thành đống ở vỉa hè được bán theo mớ, rẻ hơn rau cỏ.

Nhưng rồi càng ngày lan rừng Sa Pa càng hiếm đi trông thấy và đến khi đó người ta mới chợt nhớ rằng từ nhiều năm nay, có một số người ở thị trấn vẫn đang âm thầm chơi phong lan như một thú vui ẩn dật.

Để tìm được các cành phong lan nhỏ bé âm thầm bám lơ lửng đâu đó tít trên các cành cây cao giữa rừng sâu đã là một việc khó, mất nhiều công sức, nguy hiểm nhưng cũng còn cần có cả may mắn nữa. Lấy được lan về đến vườn rồi điều quan trọng nhất là phải tìm được cách giữ cho chúng có đủ các điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm thích hợp thì lan mới sống được. Giữ cho lan sống được ở trong vườn nhà đã rất khó, nhưng làm sao cho năm sau giò cây lại nở hoa tươi tốt, đủ sắc đủ hương như trong rừng lại là một điều cực khó.

Một số loài phong lan lạ mới phát hiện ở Sa Pa đã được đặt tên ghép với hai chữ Sa Pa, nơi người ta đã lần đầu tìm thấy chúng. Thí dụ như: Môi dày Sa Pa, Lan sữa Sa Pa, Lưỡi vàng Sa Pa…, là những cái tên đã chính thức được đưa vào danh mục phong lan thế giới.