Đèo Ngoạn Mục

Đèo Ngoạn Mục hay còn gọi là đèo Sông Pha là một trong những đèo núi đẹp nhất Việt Nam tại tỉnh Ninh Thuận, men theo những sườn núi dựng nối thung lũng Ninh Sơn với cao nguyên Lang Biang.

Lịch sử

Sau khi Yersin phát hiện ra Đà Lạt năm 1893, năm 1897 trong kế hoạch xây dựng thành phố này viên toàn quyền Doumer đã phái một nhóm nghiên cứu thực địa nhằm lập bản đồ mở tuyến đường từ Phan Rang lên Đà Lạt. Dưới sự chỉ huy của đại uý Thouars, nhóm người này đã vẽ được lộ trình dài 122 km từ Phan Rang băng qua xóm Gòn (tên gọi của thung lũng Ninh Sơn lúc bấy giờ) để lên Dran (Đơn Dương), thung lũng Đa Nhim, Klong, Prenn rồi đến Đà Lạt. Lộ trình ấy làm phác thảo một hướng đường bộ qua đèo Bellevue, tức Ngoạn Mục ngày nay và một hướng đường sắt răng cưa được xây dựng đến năm 1917[1]. Ngoạn Mục được coi là con đường được hình thành trong vất vả, giữa lam sơn chướng khí và sự rình rập của thú dữ cùng những toán lục lâm thảo khấu[1].

Gần một thế kỷ trôi qua, con đường đèo được mở rộng hơn qua 2 lần sửa chữa lớn của Pháp và Nhật về sau này và quá trình tu sửa liên tục của nhà nước Việt Nam trong thời gian gần đây[1]. Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đèo Ngoạn Mục được công nhận theo Quyết định số 194/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ký ngày 09 tháng 08 năm 1986[2].

Đặc điểm

Đèo Ngoạn Mục dài 18,5 km[3], có độ dốc trung bình trên 9 độ, là đèo có độ dốc lớn nhất ở các tỉnh phía Nam. Nằm trên quốc lộ từ Thị xã Phan Rang đi Đà Lạt, đèo có độ cao trong khoảng 200m ở điểm thấp nhất và lên tới 980 m ở đỉnh đèo[2]. Trên đèo Ngoạn Mục có 4 đoạn cua khuỷu tay rất gấp, con đường uốn lượn mềm mại qua những đồi núi, sườn đồi lớn nhỏ khác nhau tạo hình vòng sóng, tạo nên những tầng đường mà nếu có dịp dừng chân trên đỉnh nhìn xuống, dễ thấy vẻ quyến rũ lãng mạn lẫn hùng vĩ của nó[1]. Từ trên đèo nhìn xuống thấy bờ vực dốc đứng, sâu thẳm, lấp ló qua những rặng thông là con đường ngoằn ngoèo khúc khuỷu với những chiếc ô tô ví như món đồ chơi chậm chạp đang bò lên hay xuống. Xa hơn là đồng bằng Phan Rang với dòng sông Cái uốn lượn. Hai dải núi cao ôm bọc lấy thung lũng Phan Rang chạy ra tận biển. Những ngày đẹp trời, từ trên đèo có thể thấy đường bờ cát trắng và nhấp nhô những con sóng lăn tăn.

Bên đèo Ngoạn Mục là những suối thác cắt ngang vách núi, những dãy núi đồi với hệ thực vật khá phong phú đa dạng, đặc trưng. Hệ thực vật rừng nguyên sinh đèo Ngoạn Mục bao gồm các loài cây ôn đới như thông lá dẹt, thông lá tròn xuất hiện ngày một nhiều theo hướng dốc núi cao dần. Rừng khộp tái sinh với những ưu thế là khá nhiều cây dầu rái, dầu trà ben, tiếp đến là rừng thường với các loài cây xanh vùng nhiệt đới núi thấp. Ở phía đông có các loài dẻ, re, chạy dần sang phía tây là những đồi thông, loài thực vật đặc trưng của vùng khí hậu ôn đới[4]. Tuy vậy, rừng ở đây đã bị tác động nặng nề do hậu quả mà các hoạt động của con người mang lại[2] như việc đặt ống dẫn nước cho thủy điện Đa Nhim, du lịch, khai thác lâm sản[5][6], giao thông v.v.

Khí hậu

Nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng ven biển nam Trung Bộ và cao nguyên Đà Lạt[2], Đèo Ngoạn Mục mang trong mình nhiều trạng thái cảnh quan và khí hậu khác nhau. Nếu đi từ dưới lên, sẽ dễ dàng nhận ra sự giảm dần nhiệt độ qua những thay đổi về hệ sinh thái. Sự xuất hiện dần của thông, hoa dã quỳ hai bên đường tạo nên một ấn tượng về một tiểu vùng khí hậu lạnh hơn và một vùng phong thổ khác. Phân định tại Eo Gió với một khúc cua ngoặt khuỷu tay, khí hậu đột ngột thay đổi từ cái nắng gắt gỏng của Ninh Sơn chuyển sang những đợt gió cao nguyên lạnh buốt[1].

Du lịch

Đèo Ngoạn Mục hấp dẫn du khách với cảnh sắc thay đổi liên tục theo thời gian và không gian. Lên Ngoạn Mục vào buổi sáng bằng xe gắn máy, du khách dễ bị choáng ngợp bởi những cụm mây mịt mù. Lên Ngoạn Mục những chiều đông, có thể đứng ở vực cao ngắm ra khoảng rừng những vách đồi trước mặt, thấy những mảng rừng đổi màu lá xanh, lá đỏ. Lên đèo Ngoạn Mục vào những đêm trăng sáng, dễ nhận ra một không gian ảo huyền giữa bao la núi rừng.

Với địa thế khá hiểm trở, Đèo Ngoạn Mục trở thành đoạn đường thú vị cho một tour bằng xe đạp, xe gắn máy trên đường từ phố núi Đà Lạt xuôi về duyên hải Phan Rang[1].

Chú thích

  1. ^ a b c d e f Đèo Ngoạn Mục
  2. ^ a b c d Khu BTTN Đèo Ngoạn Mục
  3. ^ Có tài liệu [1] cho rằng chiều dài của đèo là 21km.
  4. ^ Rừng nguyên sinh Đèo Ngoạn Mục
  5. ^ Thông trên Đèo Ngoạn Mục bị bức tử
  6. ^ Đèo Ngoạn Mục, phá rừng cũng “ngoạn mục”

Lang bang xã Lát

Tháo chạy khỏi Liang Biang, cả nhóm vượt đoạn đường nhầy nhoẹt nước mưa khám phá xã Lát. Thật lòng là điểm tham quan này không đặc sắc gì mấy.

Xã Lát có thể được hình dung là khu định cư của người dân tộc vì vậy cộng đồng và văn hóa Tây Nguyên ở đây khá mờ nhạt. Không có những nhà Rông cao vút như ở Gia Lai mà chỉ có một nhà dài trưng bày một số ít cồng chiêng khá xập xệ.

Trong ảnh dưới là nhà nguyện của bà con dân tộc vì đa số dân xã Lát theo đạo Thiên Chúa.

Nhà nguyện xã LátNhà nguyện xã Lát

Có một số cửa hàng dệt thổ cẩm phục vụ du lịch ở đây nhưng nhìn chung còn sơ sài và chưa có nét đặc sắc.

Truyền rằng, đó là kết quả của một tình yêu chung thủy của đôi trai gái tài sắc. Chàng Ha Biang dũng cảm đã từ giã người vợ xinh đẹp để lên đường tìm kiện trời không chịu làm mưa, để cho đất đai, cây cối dưới trần phải một phen khốn đốn. Rồi, Ha Biang mãi không về. Thương chồng, Ka Lang lần theo dấu Ha Biang để lại, tìm đến với xác của Biang gục trên đỉnh Găng Reo. Ka Lang khóc. Tiếng khóc của nàng lay động đến trời, lay động cả con voi đầu đàn. Trời vội vã làm mưa, còn con voi dữ cũng tình nguyện đem thân mình ra che chở cho đôi tình nhân chung thủy. Sau ba tháng, nước mưa hòa cùng với nước mắt Ka Lang, nước mắt của con voi đầu đàn tưới mát khắp núi đồi, nương rẫy, làng buôn và chảy thành suối. Suối nước ấy, buôn làng gọi là suối Đa Nhim (nước mắt), dẫn qua thác Liên Khàng (Liên Khương) rồi về sông lớn (Đa Đờn-Đồng Nai), lấy tên Ông Voi đặt cho tên núi Găng Reo và ghép tên của hai người yêu nhau thành tên núi.

Theo easyvn, tại đây có nhiều bài viết về địa danh Đà Lạt khá hay

Trong các truyền thuyết, thần thoại của các dân tộc thiểu số ở Ðà Lạt 3 rặng núi : Lang Bian, núi Khổng lồ (Nhút), và BiÐúp có mối quan hệ mất thiết với nhau

Chuyện kể rằng (*) : Ngày xưa, xưa lắm, vùng La Ngư Thượng tức Ðà Lạt bây giờ đất đai phì nhiêu, cây cỏ tốt tươi, quanh năm khí hậu ngọt ngào như mùa thu. Thuở ấy, các bộ tộc ít người còn sống riêng rẽ và thỉnh thoảng vẫn xảy ra những cuộc tranh chấp về vùng đất, vùng đồi hoặc phong tục. Trên vùng Cao nguyên xinh đẹp này có 2 bộ tộc mạnh nhất là Lạch và Srê. Tộc Lạch có một tù trưởng khỏe mạnh, đẹp trai, giàu lòng thương người và có tài chinh phục thú rừng, đó là chàng Lang. Một hôm, trong bản làng có hai con voi đi lạc từ vùng La Ngư Hạ lên, rất hung dữ. Hàng chục người Lạch vây hãm mà vẫn không triệt hạ nổi. Khi Lang từ rẫy về, thấy vậy vội ra hiệu cho họ nghỉ tay, một mình chàng tìm cách chinh phục đôi voi. Sau một hồi giao đấu, Lang nắm được đuôi hai con voi liền cột chặt vào nhau làm chúng không đủ sức kháng cự nữa. Chàng bắt cả 2 quỳ xuống hàng phục. Lang không đánh đập khi chúng đã thua mà tìm lời ngọt ngào khuyên nhủ:

– Ta tha chết cho 2 ngươi… bây giờ phải về làng cũ kẻo dân làng mong tìm. Từ đây không được phá phách nữa.

Hai con voi cảm động rơi nước mắt, lặng lẽ bước đi ngoan ngoãn. Từ đó Lang nổi tiếng là một dũng sỹ nhân ái được cả cầm thú và bộ tộc thương yêu, kính trọng.

Năm tháng dần trôi, Lang đã 20 tuổi mà vẫn chưa có vợ vì không có một thiếu nữ nào trong buôn làng cảm thấy xứng đáng bắt Lang làm chồng. Hơn nữa, Lang đang gởi trái tim mình cho một người con gái của bộ tộc khác là nàng Bian kiều diễm, con gái của tù trưởng KZềnh, thuộc bộ tộc Srê. Bian xinh đẹp thông minh và khiêm tốn. Những ngày vào rừng hái trái, kết hoa thì thiên nhiên, cây cỏ dường như tươi vui, thắm thiết hơn, chim rừng xôn xao hót líu lo. Những con thú hiền lành quây quần săn đón nàng. Các loài thú dữ thường lẫn tránh. Tuy nhiên, cũng chính vì vẻ đẹp rực rỡ đó mà hai con rắn hổ tinh đem lòng ghen ghét, tìm cách mưu hại Bian.

Một hôm nọ, lũ làng Srê theo Bian đi hái quả, khi đến thác Ða Tanla – nơi các tiên nữ thường hay xuống tắm, 2 con rắn hổ tinh liền chặn đoàn người lại và tấn công, dưới sự giúp sức của 2 con cáo già và 7 con chó sói! Trong lúc Bian và lũ làng sắp bị chúng làm hại thì dũng sĩ Lang xuất hiện:

– Hỡi bọn độc ác, các người không được hại người lương thiện.

Thế rồi, Lang nhảy vào vòng chiến. Bầy chó sói và rắn tinh quây quanh chàng. Cuộc chiến đấu mỗi lúc một ác liệt. Cuồng phong nổi lên dữ dội. Cây rừng gãy đổ ào ào. Mặt trời chệch về hướng Tây, xuyên qua kẻ lá làm nổi bật hai cánh tay rắn chắc của người dũng sĩ. Khi hai con rắn tinh lè lưỡi, nhanh như chớp dũng sĩ Lang dùng xà gạc phớt nhanh vào đó, chúng rú lên thảm thiết. Cuối cùng, chàng đã dùng cung tên bắn vào bầy dã thú, chúng kêu lên đau đớn và bỏ chạy hoảng loạn làm náo động cả một khu rừng.

Lang đi gọi đoàn Srê và nàng Bian đến. Nàng e lệ cảm ơn chàng. Từ đó dũng sĩ Lang và nàng Bian xinh đẹp, dịu hiền yêu mến nhau, cho dù khác bộ tộc và họ ở cách xa nhau mấy con suối! Có những đêm trăng sáng hai người hẹn gặp và sánh vai nhau đi dạo trên những quả đồi ở vùng La Ngư Thượng. Mỗi lần như vậy Bian thường nhắc đến buổi gặp gỡ ở thác Ða Tanla. Tin Bian yêu thương dũng sĩ Lang lan truyền rất nhanh trên Cao nguyên. Chỉ mấy lần trăng tròn, các bộ tộc vùng La Ngư Thượng đều hay tin con gái của tù trưởng KZềnh sẽ bắt chồng là tù trưởng của bộ tộc Lạch, nhưng đám cưới của Lang và Bian không thành vì ông KZềnh nói:

– Bạp (cha) không chấp nhận. Tục lệ của bộ tộc ta không cho phép bộ tộc người Lạch được nhận vào người Srê.

Bian nài nỉ:

– Bạp là tù trưởng, Bạp có thể thay được tục lệ mà. Người Lạch cũng là người, sao không bắt chồng được?

Ông KZềnh cương quyết:

– Trước đây người Lạch và Srê có thù oán, cho nên con gái Srê không bắt chồng người Lạch. Yàng (Trời) đã ghi trong luật tục. Bạp không có quyền thay đổi.

Bian khóc nức nở:

– Thế thì Bian không bắt ai làm chồng nữa đâu. Bian sẽ trọn đời mang chiếc vòng cầu hôn của Lang.

Ngày hôm sau, Bian vượt qua nhiều cánh rừng để báo tin cho Lang biết, đám cưới của họ không thành. Lang buồn rầu nói:

– Ta biết hiện nay giữa các bộ tộc có nhiều luật tục vô lý mà. Chúng ta phải chống lại kẻ độc ác và những oan nghiệt ấy, Bian ạ vì nó đã làm cho ta đau khổ.

Bian im lặng, cúi đầu. Nước mắt nàng tuôn trào hòa vào con thác, dòng suối trên Cao nguyên khiến chúng gầm réo suốt ngày đêm như khóc than cho mối tình tuyệt vọng của hai người.

Lang và Bian ngồi yên lặng bên nhau trên đỉnh núi, hết ngày này sang ngày khác, mặc cho đêm xuống, nắng lên, sương tan, bóng xế. Họ quyết định ở bên nhau cho đến chết. Thế rồi, sau một đêm mưa gió bão bùng cả hai người đã qua đời. Tin chàng Lang và nàng Bian gục chết bên nhau để phản đối lại luật tục khắc khe, sự thù oán vô cớ giữa hai bộ tộc Lạch và Srê chẳng mấy chốc được lan truyền khắp núi rừng vùng La Ngư Thượng. Cái chết của chàng Lang và nàng Bian khiến các bộ tộc đều xót thương. Họ kéo nhau đi thành đoàn dài từ thung lũng này sang thung lũng nọ. Ông KZềnh vô cùng ân hận, bèn đứng ra kêu gọi bộ tộc Lạch, Chil, Srê hợp nhất thành dân tộc K’Ho, xóa bỏ mọi hiềm khích trước đây và cho phép con trai, con gái giữa các tộc họ được lấy nhau để sinh con đẻ cái. Mọi người quyết định lấy ngọn núi cao nhất vùng Cao nguyên xinh đẹp này để chôn cất hai người và đặt tên là Lang Bian. Từ đó, mỗi năm các bộ tộc lại tụ họp về đây để cúng tế ăn trâu, uống rượu cần và đắp mộ cho hai người. Do đó, ngọn Lang Bian mỗi ngày một cao thêm và là biểu tượng cho sự hòa hợp, thống nhất giữa các tộc dân vùng La Ngư Thượng.

Người Lạch còn kể thêm rằng : Yàng cảm thương sự chung thủy của Lang và Bian nên cử một vị thần xuống trần gian chăm sóc cho hai ngọn núi nói trên. Và thần này được đặt tên là thần Lơm Biêng. Thần Lơm Biêng đắp cao ngọn Lang Bian làm trụ trời. Ðây cũng chính là nơi định cư cho dân tộc Kho Lạch. Ngày nay, nhiều già làng người Lạch kể về sự tích núi Lang Bian thường kể về phần hai, tức là phần thần Lơm Biêng xây trụ trời.… Thần Lơm Biêng khi xây có nhờ hai người bạn giúp sức: đó là ông Khổng lồ (Nhút) – cũng là tên rặng núi tiếp với Lang Bian (phía trái nhìn từ Ðà Lạt – Lạc Dương) và BiÐúp. Nhưng ông này keo kiệt, tham ăn nên bị thần Lơm Biêng cho một đạp té xuống gần biển. BiÐúp theo tiếng người thiểu số có nghĩa là té ngữa.

Thác Voi

Vị trí: Thác Liêng Rơwoa hay còn gọi là Thác Voi nằm ở thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, cách thành phố Đà Lạt 25km về hướng tây nam.

Đặc điểm: Thác Voi là một trong những thác nước đẹp của Tây Nguyên hùng vĩ với chiều cao hơn 30m, rộng chừng 15m.

Các già làng K’ho cư trú lâu đời ở miền đất này kể rằng: Ngày xưa, vị tù trưởng của vùng núi Jơi Biêng có cô con gái rất đẹp. Mỗi khi sơn nữ cất giọng hát thì lá rừng thôi xào xạc, đàn chim ngừng tiếng hót để lắng nghe. Người yêu của nàng là con trai của tù trưởng làng bên. Chàng được nhiều người yêu mến, quý trọng không chỉ bởi vóc dáng vạm vỡ, khuôn mặt khôi ngô mà còn vì sự gan góc, dũng cảm ít ai sánh kịp. Họ đã trao lời hẹn ước nên duyên chồng vợ song chàng trai phải lên đường giết giặc và rồi nhiều mùa trăng trôi qua mà chẳng thấy quay về. Cô gái đau khổ tìm đến ngọn núi hoang vắng mà trước kia họ từng hò hẹn, cất tiếng hát tha thiết, sầu thảm với hy vọng người trong mộng tìm về chốn xưa. Tiếng hát khiến loài chim B’ling  xúc động. Chúng rủ nhau bay đi thật xa để dò la tin tức rồi về báo cho nàng biết là chàng trai đã hy sinh ngoài chiến trường. Thế nhưng, sơn nữ vẫn không chịu chấp nhận sự thật phũ phàng đó. Nàng cứ hát, hát mãi cho đến khi kiệt sức, ngã quỵ và không bao giờ gượng dậy được nữa. Đàn voi phủ phục nghe nàng hát bấy lâu nay cũng hóa đá lặng câm. Bỗng có tiếng nổ lớn, trời đất rung chuyển khiến ngọn núi gãy ngang và một dòng thác đột ngột tuôn chảy, tung bọt trắng xóa. Tiếng thác nước rì rầm hòa cùng tiếng xào xạc của rừng cây, tiếng líu lo chim hót như tiếp nối lời ca, tiếng đàn của sơn nữ xinh đẹp, thủy chung. Người K’ho bèn đặt tên cho thác là Liêng Rơwoa Jơi Biêng – thác của những con voi phủ phục hóa đá trước tình yêu nồng nàn, son sắt.

Sẽ thật đáng tiếc khi đến Đà Lạt – Lâm Đồng mà không tới Liêng Rơwoa (thác Voi) kỳ bí, thơ mộng. Thác nước gắn liền với sự tích về mối tình thủy chung, bi tráng này đã được công nhận là di tích thắng cảnh quốc gia. Dòng nước trong veo tuôn chảy qua sườn núi đá hoa cương trông thật ngoạn mục, nhất là khi ánh nắng rực rỡ chiếu rọi xuống thác làm bừng lên cầu vồng bảy sắc. Muốn xuống chân thác, du khách phải “chinh phục” 145 bậc tam cấp vòng vèo: khi là những bậc đá thiên tạo “ăn” vào vách núi cheo leo, lúc là các tấm ván của chiếc cầu gỗ xinh xinh chênh vênh bên bờ vực thẳm. Ngút tầm mắt là rừng đại ngàn với những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, thân và cành chằng chịt dây leo. Giữa mênh mang, lớp lớp cây rừng mầu xanh ngắt hoặc điểm xuyết những chòm lá đỏ rực như lửa, những thảm hoa màu vàng tươi hoặc tím biếc đẹp đến lạ lùng. Dưới chân thác và trong cánh rừng già xuất hiện một số tảng đá lớn có hình thù hệt như những con voi. Thế nên, tiếng thác đổ ầm ào khiến người thưởng ngoạn tưởng như có một đàn voi chạy đua hoặc tung vòi phun nước đùa nghịch với nhau. Phía sau dòng thác trắng xóa đang tung bụi nước mù mịt là những hang động sâu hun hút đầy bí ẩn. Đó là hang Dơi ăn sâu xuống lòng đất đến 50m với những vách đá có các hình thù, mầu sắc rất lạ mắt. Rễ cây và dây leo đan xen chằng chịt, càng xuống sâu, hang càng tối nhờ nhờ và lạnh lẽo như động của phù thủy. Đó là hang Gió với lối vào rất hẹp nhưng bên trong khá rộng, vi vút tiếng sáo gió trời.

Bên cạnh vẻ đẹp quyến rũ, thơ mộng, thác Voi từng là cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp – Mỹ. Mới được tôn tạo thành điểm tham quan du lịch trong những năm gần đây, song thác Voi nhanh chóng được công nhận là di tích văn hóa – lịch sử cấp quốc gia. Một dự án đầu tư 20 tỷ đồng để nâng cấp thắng cảnh Liêng Rơwoa trong những năm 2003 – 2005 cũng đã được chính quyền địa phương phê duyệt. Tuy nhiên, nguyện vọng tha thiết nhất mà những người yêu thác Voi nhắn nhủ các nhà đầu tư là hãy thận trọng, đừng làm mất đi vẻ hoang sơ kỳ bí của sơn nữ Liêng Rơwoa.

Thác Pongour

Thác Pongour là một ngọn thác nổi tiếng đẹp mơ màng, hùng vĩ, hoang dã nhất của Nam Tây Nguyên. Do đó, nếu đến Đà Lạt khách không thể quên được thác Pongour.

Thác Pongour thuộc huyện Đức Trọng, cách huyện lỵ 20km và xa trung tâm thành phố Đà Lạt 50 km. Trên quốc lộ 20 Đà Lạt – Sài Gòn, đến xóm Trung (phía núi Chai) rẽ về phía tay phải đi một quãng đường đất dài độ 8 km du khách sẽ đến được thác Pongour mà người dân địa phương gọi là thác Bảy Tầng hay là thác Thiên Thai. Về tên gọi Pongour có hai giả thuyết như sau:
Thứ nhất, Pongour là do tên người Pháp phiên âm từ tiếng dân tộc bản địa (K’ho: Pon – gou (với nghĩa là ông chủ vùng đất sét trắng). Qua một số tài liệu địa chất học của người Pháp, vùng này có nhiều kaolin. Như vậy, Pongour có nghĩa là ông chủ hay ông vua xứ Kaolin.

Giả thuyết thứ hai hiện nay khá phổ biến, được nhiều người nhắc đến: Pongour xuất phát từ ngôn ngữ K’ho có nghĩa là bốn sừng tê giác (Pon: bốn, gou: sừng). Giả thuyết này lấy từ môt truyện cổ trong kho tàng truyện cổ K’ho – Chàm, Churu. Nội dung truyện cổ ấy như sau:
Ngày xưa vùng đất Phú Hội – Tân Hội – Tân Hà ngày nay do nàng Ka Nai làm chủ. Ka Nai là một tù trưởng nữ xinh đẹp, trẻ, có sức mạnh hơn cả thanh niên dũng sĩ K’ho – Churu. Nàng lại có tài chinh phục thú rừng, đặc biệt là loại Tây u (tê giác) (Rơmis). Do đó, trong bộ lạc của nàng có đến bốn con tê giác khác thường. Ka Nai thường dùng bốn con tê giác ấy để khai phá núi rừng đồi suối và đánh giặc bảo vệ buôn làng. Thuở ấy, giặc Prenn (người Chàm) ở Panduranga (Ninh Thuận ngày nay) thường lên quấy phá, bắt bớ dân địa phương về vương quốc Chăm để làm phu, làm xâu (một hình thức nô lệ), hoăc đi lính chống lại người Yuan (Kinh).
Một lần, dân tộc của bộ tộc Ka Nai bị lính Prenn bắt đi khá nhiều. Căm giận trước cảnh ấy, Ka Nai đã kêu gọi các bộ tộc Tây Nguyên như Sré, Mạ, Nộp… nổi dậy chống người Prenn. Nàng đã tự mình cưỡi tê giác cùng với đoàn quân Tây Nguyên xuống đánh phá vương quốc Panduranga để báo thù. Ka Nai đã chiếm được bốn thành của người Prenn, cứu được hàng trăm dân K’ho bị người Prenn bắt làm nô lệ trước đây. Nhưng qua chiến thắng này, Ka Nai thấm thía nỗi nhân tình thế thái: một số người K’ho Mạ đã theo giặc Prenn, chịu làm xâu, tớ cho người Prenn chứ không chịu về Tây Nguyên – quê hương cũ, mặc dù nhiều người K’ho Mạ ấy đã có gia đình tại quê nhà.
Đau buồn và tức giận trước nghịch cảnh ấy, Ka Nai quyết trừng trị những ai bội nghĩa quên tình. Và, sau đó nàng phải xây dựng lại cuộc sống cho buôn của nàng. Ka Nai cùng bốn con tê giác ngày đêm ủi núi san đồi để tạo dựng một “vương quốc thủy chung” cho người K’ho của nàng. Pongour là dấu vết bốn con tê giác cắm xuống núi rừng Tây Nguyên để mở ra một kỷ nguyên văn hóa cho các dân tộc tại đây.

Thác Pongour có lịch sử từ nhiều người, nhiều giai đoạn và ngày nay có ngày kỷ niệm. Đó là dịp trăng tròn đầu tiên của mùa ấm áp, núi rừng khởi sắc để làm ngày “kỷ niệm” cho bộ tộc của nàng. Trong những năm 60 của thế kỷ này, nhiều người Hoa ở Tùng Nghĩa (Đức Trọng) nhân tết Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng) thường tổ chức các cuộc viếng chùa miếu, lăng tẩm, các thắng cảnh, các di tích lịch sử kết hợp với phong tục của dân bản địa (K’ho, Churu) và người các dân tộc di cư 1954 (Thái, Thổ, Tày, Nùng…) cùng đặt ra lễ thác Pongour (thường gọi là thác Thiên Thai). Vào rằm tháng Giêng âm lịch hàng năm từng đoàn người từ các thị trấn Liên Nghĩa, Cao Bắc Lạng, Lục Nam… của Đức Trọng và các vùng Brơtel, Phú Mỹ, Lạc Sơn, Bằng Tiên, Ngọc Sơn, Đinh Văn… của Lâm Hà nườm nượp trẩy hội thác Pongour.

Trong dịp này, nam thanh nữ tú Bắc Nam, Kinh-Thượng, Hoa-Việt, Thái-Tày… đều rộn rã du xuân, hồ hởi vượt qua bảy tầng thác Pongour, mong vào được chốn Thiên Thai. Đây là dịp mà người ta không còn phân biệt Kinh-Thượng. Họ tự trao đổi tâm tình, tìm hiểu và yêu mến nhau. Tục truyền rằng: những ai không thành thật, không chung thủy, những kẻ bất tín, bội thề đã đến thác Pongour, thì ít khi được trở về; nàng Ka Nai nổi giận, do đó sai Yàng Pongour giữ lại những ai thuộc diện người nói trên tại dòng thác Pongour để nàng dạy cho họ những bài học về con người … Có người không dám đến Pongour là vì thế. Nhưng đến Đà Lạt mà không đến thăm Pongour thì cũng như chưa đến Đà Lạt, chưa thấy được vẻ mơ màng hoang dã của Nam Tây Nguyên. Và những ai trong sáng thì có ngại gì. Những năm gần đây du khách đến trẩy hội Pongour ngày càng nhiều và thật vui mừng là hàng ngàn du khách lên Đà Lạt đến thăm Pongour đều bình an trở về. Phải chăng Yàng Pongour đã thẩm định đích xác lòng người?

Thác Pongour hay còn gọi là thác Bảy tầng là một ngọn thác tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, nằm cách Đà Lạt 50 km về hướng Nam.

Thác đổ từ độ cao gần 40 mét, trải rộng hơn 100 mét, qua hệ thống đá bậc thang bảy tầng. Bao quanh là khu rừng nguyên sinh có diện tích khoảng 2,5 ha với thảm thực vật đa dạng, phong phú.

Truyền thuyết

Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa, vùng đất Phú Hội – Tân Hội – Tân Thành bây giờ do một nữ tù trưởng K’Ho xin đẹp tên là Kanai cai quản. Nàng có tài chinh phục thú dữ phục vụ lợi ích con người, trong đó có bốn con tê giác to lớn khác thường, luôn tuân lệnh Kanai dời non ngăn suối, khai phá nương rẫy trồng bắp, gieo lúa và sẵn sàng xung trận chiến đấu chống kẻ thù, bảo vệ buôn làng. Nhờ đó, cuộc sống cộng đồng ngày càng sung túc, thanh bình. Mùa xuân năm ấy, đúng ngày rằm tháng giêng, nàng nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng. Bốn con tê giác quanh quẩn đêm ngày không rời thân chủ nửa bước, chẳng buồn ăn uống cho đến chết… Bỗng một sáng bình minh vừa hé, mọi người hết sức ngạc nhiên khi thấy nơi nàng yên nghỉ sừng sững ngọn thác đẹp tuyệt trần. Thì ra, suối tóc Kanai đã hoá thành làn nước trong xanh, mát rượi, tung bọt trắng xoá, còn những phiến đá bàn xanh rêu xếp từ cao xuống thấp, làm nền cho thác đổ, chính là các cặp sừng của đàn tê giác hoá thạch – biểu tượng của sức mạnh đoàn kết, gắn bó vĩnh cửu giữa con người với thiên nhiên bao la.

Pongour là tên do người Pháp phiên âm từ tiếng bản địa K’Ho: Pon-gou có nghĩa là ông chủ vùng đất sét trắng. Theo một số tài liệu địa chất của người Pháp, vùng đất này có nhiều kaolin.

Pongour là thác nước duy nhất có ngày hội. Hằng năm cứ vào dịp rằm tháng giêng âm lịch, từ khắp nơi các nam thanh nữ tú không phân biệt dân tộc đổ về đây trẩy hội mùa Xuân. Đây là dịp mà mọi người sống cởi mở, chân tình, tự do tìm hiểu và yêu mến nhau.

Những ngôi đình trong lòng Đà Lạt

Thành phố Đà Lạt với lịch sử 117 năm hình thành và phát triển, vì vậy nơi đây không có những ngôi tổ đình hay những ngôi đình cổ kính như ở các nơi khác Giữa cái tấp nập vồn vã của thành phố, cái náo nhiệt của nếp sống đô thị thì những ngôi đình vẫn lặng lẽ còn đó với vẻ trầm mặc, yên bình.

Thành phố Đà Lạt nơi mang trong mình những ngôi đình trầm mặc, yên bình
Đó là mái đình và những tín ngưỡng văn hoá dân gian về một vị thành hoàng làng có công với làng, cũng là nơi để sinh hoạt cộng đồng trong những ngày lễ tế hội hè. Theo thống kê, hiện nay Đà Lạt còn hơn 20 ngôi đình như: đình An Hoà; đình Thiên Thành; đình Ánh Sáng, đình Đà Lạt, đình Nghệ Tĩnh… Các ngôi đình ở đây có niên đại khá muộn so với các đình khác trên cả nước, đình có niên đại sớm nhất là đình Đà Lạt và đình ấp Tân Lạc được xây dựng năm 1920, có những đình được xây dựng sau này như đình Lạc Thành (1972); đình ấp Đa Trung (1973).

Đình Đà Lạt (Đa Lạc)

Có thể chia đình ở Đà Lạt thành hai loại. Thứ nhất, đình có nét văn hoá và sinh hoạt chung của cộng đồng gồm nhiều thành phần dân cư. Thứ hai, đình có nét văn hoá và sinh hoạt riêng của một cộng đồng dân cư của một số địa phương cụ thể. Nhưng tựu chung lại đó đều là những nét văn hoá đặc trưng trong tổng thể văn hoá. Cũng như các đình khác trên cả nước, đình ở Đà Lạt có trang trí nhiều cặp câu đối và hoành phi. Đình An Hoà có một cặp câu đối ở bên ngoài mà mọi người đều có thể nhìn thấy khi dừng chân trên đường 3/2 “Nhân tâm vi bổ – Vạn thế vĩnh tồn” (Lòng người là gốc – Muôn đời trường tồn), hay như đình Đà Lạt có cặp câu đối “Nhân kiệt địa linh an định lạc – Phong thuần tục mĩ lợi hoà đa” (Nơi địa linh có người tài giỏi là nơi yên lành vui vẻ – Thuần phong mĩ lợi hoà đa).

Đình Trường Xuân

Đền thờ thánh đức Trần

Đình ở Đà Lạt không có bình phong như đình ở Huế cũng không được trang trí cầu kỳ như ở và đình An Hoà cũng phần nào mang một nét cổ kính khi trên mái đình được trang trí bằng những con rồng ở đầu mái, trong nội đình được thiết kế 3 gian và hai bên tả ban, hữu ban đều có bàn thờ và những câu đối. Trong chừng mực nhất định nào đó khi những người dân Việt mở mang bờ cõi về phía Nam đã thổi vào đây một đời sống văn hoá tinh thần thì đình làng vẫn mang đầy đủ dấu ấn tâm linh mà người xưa để lại.


Đình Nghệ Tĩnh

Đền Thượng trong khu vực đền Âu Lạc

Nhìn chung đình làng hay đình ấp là những nơi thiêng liêng nhưng lại rất gần gũi với những người dân. Đây cũng chính là một sợi dây tinh thần nối chặt con người lại với nhau. Dù trong hoàn cảnh đô thị hoá hiện nay, nhiều ngôi đình vẫn giữ được chức năng thuần tuý của nó là gắn kết cộng đồng cùng những sinh hoạt lễ nghi không thể thiếu trong nét văn hoá của người Việt.

Hát KaraOke tại Đà Lạt

Đối với những người “sành” trong việc thưởng thức thú vui hát karaOke tại thành phố Đà Lạt sương mù chắc hẳn đã khá quen với cái tên KaraOke Sơn. địa chỉ 38B Hai Bà Trưng.

KaraOke Sơn là điểm đến lý tưởng cho những buổi họp mặt bạn bè, chiêu đãi khách hàng hay những buổi tiệc sinh nhật vui vẻ ….. đây là sân chơi thú vị cho những ai đam mê ca hát. Sơn KaraOke có phòng nhỏ (từ 4 đến 10 người) và phòng lớn (20 đến 40 người) để đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng. Nếu bạn muốn chọn phòng VIP cho riêng mình – KaraOke Sơn chúng tôi cũng sẵn sàng phục vụ bạn một cách chu đáo.
Không muốn bị đồng hóa với các quán KaraOke dựng lên ngày càng nhiều, Sơn đã tạo nên cho mình sự khác biệt trong lối kiến trúc độc đáo và cách phục vụ niềm nở và nhiệt tình. Với kiến trúc 5 tầng Sơn có 10 phòng hát, mỗi phòng đều có một phong cách riêng. Chính điều này đã tạo nên sự mới lạ cho khách mỗi lần đến với KaraOke Sơn. Bên cạnh đó việc đầu tư hệ thống âm thanh ánh sáng, hệ thống máy phát điện hiện đại và tiên tiến nhất….. KaraOke Sơn chúng tôi sẽ mang đến cho bạn một thế giới âm nhạc đầy sắc màu.

Với đội ngủ nhân viên chuyên nghiệp


Là những người trẻ trung, sành điệu khi đến với KaraOke Sơn bạn sẽ được chào đón trong căn phòng đầy đủ ánh sáng. Ánh sáng vàng chanh phủ khắp căn phòng như ánh nắng mùa thu ùa vào trong từng góc cạnh từng chi tiết ….. Những ánh điện đủ màu nhấp nháy, những đèn lases …. Sang trọng luôn hấp dẫn và cổ vũ cho bài hát của bạn. Điểm nối bật nhất ở Sơn dễ nhìn thấy là cách bài trí những màn hình phẳng khổng lồ – đây chính là sân khấu ca nhạc thu nhỏ mà ở đó khách hát là những nghệ sỹ thực thụ.
Những giờ phút giải trí tuyệt vời



Trong lúc thưởng thức những bài hát hay, bạn có thể nhấp giọng với những thức uống mang hương vị hấp dẫn. Ẩm thực ở KaraOke khá phong phú từ những ly cocktail đến những ly nước trái cây ngon tuyệt…. Say sưa với những ca khúc “Tủ” đến khi đói bụng bạn sẽ được phục vụ những món ăn nhanh, ngon miệng.
Phòng rộng lớn sang trọng với hệ thống âm thanh hiện đại


Karaoke Sơn với đội ngũ phục vụ ân cần, chu đáo, hệ thống âm thanh hiện đại, không gian sạch sẽ, mát mẻ, các món ăn, thức uống được chế biến ngon sẽ làm bạn hài lòng.
Vững tin vào khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng Sơn KaraOke nhận đặt tiệc và cam kết mang đến cho khách hàng của mình chất lượng phục vụ tốt nhất. KaraOke Sơn một lần nữa khẳng định số một của mình tại thành phố Đà Lạt hiện nay.
Karaoke Sơn _ Đà Lạt

Địa chỉ: 38B Hai Bà Trưng, TP. Đà Lạt, Lâm Đồng
Điện thoại: 063.354.6789 – 09.8888.3458
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xem Karaoke Sơn ở bản đồ lớn hơn

Karaoke Sơn _ Đà Lạt

Địa chỉ: 38B Hai Bà Trưng, TP. Đà Lạt, Lâm Đồng
Điện thoại: 063.354.6789 – 09.8888.3458

Chùa Thiên Vương Cổ Sát ( Chùa tàu )

Đây là một địa danh quen thuộc đối với khách du lịch. Chùa còn có tên là chùa Phật Trầm hay Chùa Tàu. Chùa tọa lạc tại 385 đường Khe Sanh, thành phố Ðà Lạt, do các nhà sư và Phật tử người Hoa xây dựng từ năm 1958 và được xây dựng lại vào năm 1989. Chùa Thiên Vương Cổ Sát thuộc dòng Hoa Nghiêm Tông (Trung Quốc).


Chùa Thiên Vương Cổ Sát

Qua cổng tam quan là đến toà Từ bi bảo điện và ngay ở trung tâm này là pho tượng Ðức Phật Di Lặc cao 3m, được sơn son thiếp vàng. Phía sau 3 chiếc đỉnh bằng xi măng là Tòa Quang Minh bảo điện, là công trình kiến trúc chính của ngôi chùa này. Tòa Quang Minh bảo điện này có hình tứ giác, có cạnh 15m và chiều cao 12m. Trên đỉnh mái có hình hai con rồng được sắp xếp theo thế hồi long. Các đầu đao của 2 tầng mái trên và dưới đều có gắn các cặp lưỡng long vươn đầu ra ngoài. Về nội thất của chùa Tàu, từ lâu đã khá nổi tiếng với 3 pho tượng Tây phương Tam Thánh bằng gỗ trầm hương. Mỗi pho tượng cao 4m, nặng 1.500kg, do Hòa thượng Thọ Dã thỉnh từ Hồng Kông về năm 1958. Ngoài ra, hai bên tường phía trong Quang Minh bảo điện còn có các tranh vẽ phỏng theo các tích Phật.


3 pho tượng phật bằng gỗ Trầm hương

Trên đỉnh đồi thông phía sau Quang Minh bảo điện là một đài cao 2 tầng. Tầng trên là một pho tượng Phật Thích Ca đồ sộ, cao trên 10m, đang tọa thiền trên đài sen. Còn tầng dưới là nơi nghỉ ngơi cho khách thập phương tới vãn cảnh chùa.


Tượng Phật tọa thiền trên tòa sen

Cùng với các nhà thờ, chùa chiền trên địa bàn thành phố, chùa Thiên Vương Cổ Sát (chùa Tàu) là một ngôi chùa có rất nhiều nét kiến trúc cũng như trang trí nội thất in đậm phong cách Trung Quốc. Ðiều đó càng chứng tỏ rằng, mặc dù các hạng mục kiến trúc ở Lâm Ðồng không có khác biệt lớn về phong cách so với kiến trúc cùng loại ở các vùng dân cư khác, nhưng vẫn có thể nhận ra những nét rất riêng của Ðà Lạt ở các công trình kiến trúc này. Trước hết, các kiến trúc này đều chiếm lĩnh những khoảng không gian rộng rãi, cảnh quan khoáng đãng và thường tọa lạc trên những đồi cao, chứ không chen chúc nhau trong những khoảng không gian chật hẹp ở các vùng đô thị.

Thác Đamri

Khu du lịch thác Damb’ri (Đam Bri) nằm ở phía tây bắc thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi đi qua 16 km đường nhựa quanh co bên những nương dâu, đồi trà, cà phê xanh ngát, du khách sẽ được đắm mình trong phong cảnh thiên nhiên trong lành hùng vĩ bởi một quần thể thác nước xen giữa khu rừng nguyên sinh rộng hàng ngàn hécta với hàng trăm loài động thực vật quý hiếm đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên. Theo truyền thuyết, từ rất xa xưa, trong vùng rừng núi nơi đây có hai bộ tộc cùng sinh sống, nhưng quan hệ giữa hai bộ tộc không được thuận hoà, thường xảy ra những cuộc xung đột, tranh chấp.
Hai bộ tộc lại có đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết, chàng tên là K’Dam, nàng là B’Ri. Song họ không thể chung sống với nhau dưới một mái nhà, làm chung một cái rẫy, sinh con đàn cháu đống và sống bên nhau được.
Vào một ngày kia, vì buồn bã cho số phận, không lấy được người mình yêu, chàng K’Dam đã lặng lẽ rời bỏ buôn làng đi sâu vô rừng. Nghe được tin, nàng B’Ri vội vã đi tìm chàng K’Dam. Vượt bao cánh rừng, lội bao con suối, qua bao con trăng tròn, qua bao mùa rẫy, nàng cứ đi tìm hoài, tìm mãi nhưng không thấy chàng đâu mà chỉ thấy con chim rừng than oán cho số phận của nàng.
Trong nỗi thất vọng, nàng trở về ngồi ở khu rừng gần buôn làng, than khóc, đợi chờ, hy vọng chàng sẽ trở về với nàng. Nhưng rồi nàng cứ ngồi khóc hoài, khóc mãi cho đến khi thân xác tan biến thành đất thành đá của núi rừng, nước mắt nàng chảy mãi, chảy mãi tạo thành dòng suối, dòng thác của ngày hôm nay.
Từ đó, vì thương cảm và tưởng nhớ đến tình yêu chung thuỷ của đôi trai tài gái sắc, dân làng hai bộ tộc đặt tên cho dòng thác là thác Damb’ri. Cũng từ đó, hai bộ tộc sống hoà thuận với nhau, con cháu họ có thể cùng sống chung một mái nhà, làm chung một cái rẫy, cùng sinh con đàn cháu đống.
Đến hôm nay, con cháu họ chính là bà con dân tộc Mạ – một trong những dân tộc thiểu số bản địa của tỉnh Lâm Đồng.
Từ đầu năm 1990, thấy được tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch văn hoá quý giá của khu thắng cảnh thác Damb’ri, Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam (TCTDTTVN) thành lập đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch với tên gọi ban đầu là Khu nghỉ dưỡng Damb’ri, là doanh nghiệp trực thuộc văn phòng TCTDTTVN quản lý. Đến ngày 31-5-1997, đơn vị chính thức được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra quyết định thành lập Công ty Du lịch Damb’ri, đơn vị thành viên của TCTDTTVN với nhiệm vụ chủ yếu là quản lý gần 3.000ha rừng và đất rừng (trong đó bao gồm cả Khu du lịch thác Damb’ri), kinh doanh dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng. Với phương châm tôn trọng và giữ gìn thiên nhiên, đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách, trong những năm qua, Công ty đã tập trung đầu tư phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa; đồng thời đầu tư một số dịch vụ vui chơi giải trí hiện đại, mới lạ hấp dẫn; xây dựng và mở rộng khách sạn – nhà hàng Damb’ri đạt tiêu chuẩn 2 sao phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng của du khách; ngày càng nhận được sự hưởng ứng, đồng tình của đa số du khách trong và ngoài nước.
* Rừng nguyên sinh Damb’ri bao gồm hàng trăm loài thực vật đặc thù của vùng nhiệt đới với những cây cổ thụ có tuổi thọ hàng trăm năm, to đến 3 – 4 người ôm không xuể, trong đó có những loại gỗ quý hiếm như: sao, kiềng, dổi, hồng tùng, bạch tùng,…Về hệ động vật, rừng Damb’ri có đến hàng trăm cá thể với hàng chục loài động vật khác nhau, trong đó có những loài quý hiếm cần được bảo tồn như: công, chồn mực, voọc, gấu ngựa, các loài khỉ,…
Thác nước Damb’ri là thác chính nằm ngay trung tâm Khu du lịch với chiều cao 57m, mặt thác rộng gần 30m. Đây là thác nước cao nhất ở Lâm Đồng.
Thác Dasara (Đạ Sa-ra) nằm cách trung tâm Khu du lịch Damb’ri khoảng 500m gồm 7 tầng với tổng chiều cao trên 60m.
Thác Daton (Đạ Tồn) nằm cách khu trung tâm Khu du lịch gần 700m, chiều cao thác 25m, bắt nguồn từ một dòng suối nhỏ có thượng nguồn gần khu rừng già, núi đá cao nên nước trong vắt, quanh năm mát lạnh.
Khu hang động cây hoá thạch nằm dưới tầng ba của thác Damb’ri, cách trung tâm Khu du lịch 300m. Hang sâu 50m có thể chứa được khoảng 100 người. Trên đỉnh hang là hàng loạt gốc cây hoá thạch nằm giữa những phiến đá.
Đồi Cù – Đồi Sim rộng 150ha cách trung tâm Khu du lịch 8km, bao gồm ba đồi cỏ nối tiếp nhau với diện tích khoảng 20ha. Trên đồi mọc rải rác những cụm thông tạo cho du khách có cảm giác như ở Đà Lạt. Qua hết Đồi Cù là khu rừng thông bạt ngàn.
Làng dân tộc người Mạ “Một thoáng Tây Nguyên” nằm cách trung tâm Khu du lịch 200m. Đây là khu làng được xây dựng trên một diện tích gần 1ha, ven dòng suối Damb’ri, bao gồm các khu: nhà sàn, nhà rông, khu chế biến rượu cần, khu dệt thổ cẩm, khu đua ngựa, cưỡi voi, sân biểu diễn lễ hội cồng chiêng,…
Khu Vườn Thú – Đảo Khỉ rộng 10ha cách trung tâm Khu du lịch 200m. Đến đây, du khách có dịp tham quan cuộc sống thiên nhiên hoang dã của một số loài chim, thú quý hiếm đã được thuần dưỡng như: khỉ, hươu, nai, cá sấu, công, phượng,… Ngoài ra, du khách còn được tham quan một số loài chim thú quý hiếm đặc thù của núi rừng Tây Nguyên như: gấu, báo, vượn, chồn, cheo, ba ba, kỳ đà,… Đặc biệt, du khách có thể vui đùa, chụp hình lưu niệm với các chú khỉ tinh nghịch, những chú nai vàng ngơ ngác hay chú gấu ngựa nặng trên trăm ký. Sau khi tham quan Vườn Thú – Đảo Khỉ, du khách mua vé xem xiếc với chương trình biểu diễn xiếc thú – ảo thuật vui nhộn, hấp dẫn.
Dịch vụ dã ngoại có hai loại hình:
-Ngủ tại khách sạn Damb’ri; tham quan toàn bộ Khu du lịch Damb’ri, thác Damb’ri, thác Dasara, thám hiểm hang động cây hoá thạch, tham quan làng dân tộc, Đồi Cù – Đồi Sim bằng xe Jeep, voi, ngựa,…; du ngoạn trên hồ Damb’ri bằng ca-nô.
-Ngủ lều trại có nệm, sinh hoạt lửa trại, xem biểu diễn cồng chiêng của người Mạ; tham quan toàn bộ Khu du lịch Damb’ri.
Dịch vụ thang máy là công trình đầu tư xây dựng theo công nghệ của Italia – Nhật đưa vào hoạt động từ năm 2000. Thang máy cao 50m có lồng kính bao quanh, đưa khách từ đỉnh thác xuống chân thác và ngược lại. Đứng trong thang máy, du khách thưởng ngoạn dòng thác đổ.
Dịch vụ này đặc biệt tiện lợi cho người già, trẻ em và người có sức khoẻ yếu vẫn có cơ hội chiêm ngưỡng dòng thác Damb’ri ở những góc độ kỳ thú, đẹp mắt.
Dịch vụ khách sạn – nhà hàng gồm 2 khu nhà hàng:
-Nhà hàng khách sạn Damb’ri nằm ngay trung tâm Khu du lịch với kiến trúc hiện đại, thoáng mát, có thể phục vụ 200 khách cùng một lúc. Khách sạn có 10 phòng ngủ đầy đủ tiện nghi.
-Nhà hàng Kơnia nằm gần Vườn Thú – Đảo Khỉ, lẫn khuất trong khu rừng nguyên sinh, với kiến trúc dạng hoang sơ, đặc thù của Tây Nguyên. Đặc biệt, nhà hàng chuyên phục vụ các món ăn đặc sản Tây Nguyên, rượu cần. Đây là nơi các bạn trẻ đến liên hệ tổ chức cắm trại, sinh hoạt lửa trại, xem lễ hội cồng chiêng, tìm hiểu, giao lưu văn hoá với các bạn trẻ Châu Mạ. Dịch vụ vui chơi giải trí bao gồm một số dịch vụ vui chơi giải trí hiện đại, mới lạ, hấp dẫn, phù hợp với mọi lứa tuổi (xe điện đụng, thuyền đụng, ca-nô,…) hay một số sinh hoạt mang đậm dấu ấn Tây Nguyên như: cưỡi voi tham quan thác, rừng nguyên sinh, câu cá trên hồ Damb’ri

Đồi Cù ngày thơ

Hai tiếng “thảo nguyên” gợi lên trong trí ta một màu xanh nước mênh mang, đưa tâm hồn ta đi vào cõi xa diệu vợi. Ai đã nghĩ rằng Đà Lạt có thảo nguyên? Những đồi cỏ ở Lạc Dương hay chính ngay trung tâm thành phố: Đồi Cù? Ai nỡ chỉ tính diện tích rộng hay hẹp để giới hạn mong ước của con người! Nếu vượt qua tiêu chuẩn diện tích đất đai, Đồi Cù vẫn là một thảo nguyên trong ký ức của các dân tộc ở đây. Đồi Cù có thông, có những thảm cỏ xanh, dòng suối róc rách chảy qua thung lũng, và đặc biệt có nhiều gió như ở giữa một thảo nguyên thực sự mà nhiều nhà văn đã mô tả. Nhìn từ xa, những ngọn đồi mượt mà nổi rõ lên bên hồ Xuân Hương, nhất là khi trời chuyển mưa: mưa thưa dần và cái lạnh lại tan nhiều trong nắng và gió. Càng lạnh, gió càng nhiều và càng thôi thúc người ta thử phi ngựa quanh thảo nguyên bé bỏng ấy.
Gió hội tụ trên đỉnh đồi, nơi có những khoảng đất gọt phẳng với nhiều lỗ thật tròn, dấu tích của một môn thể thao mà ngày nay gần như phai mờ trong trí nhớ dân Đà thành: đánh cù. Môn thể thao đã qua thời “náo nức”, nhưng lưu lại tên cho một nhóm đồi. Một biệt thự lẻ loi ở phía đường xuống vườn hoa, đã qua rồi thời rộn rịp: Golf Club (nhà sinh hoạt của hội chơi cù).

Đối với người dân Đà Lạt, đối với các dân tộc người thiểu số ở đây, nhất là đối với những chú bé lớn lên từ thành phố, trong tiềm thức Đồi Cù là thảo nguyên vừa mộng vừa thực. Khách dừng lại ở sườn đồi về phía Golf Club, qua con dốc gặp một dòng suối nhỏ. ở chỗ nước sâu mọc lên những hoa súng. Ai có “duyên nợ lịch sử” như Đinh Gia Trinh với loài hoa “tiên tử” sẽ thấy được những hoa súng “xô đẩy lên trên mặt nước một tâm hồn, phô cả bộ mặt với trời xanh như tận hưởng tình của trời đất”. Lại có chỗ như đầm lầy cho lau sậy yếu ớt, những con người của Pascal có đất sống mà suy tưởng. Dưới suối có cá “lòng tong” bé xíu rất kén mồi. Khách muốn câu cá phải thật nhẫn nại đợi chờ như ngày xưa Lã Vọng ngồi câu chờ thời cuộc bên dòng sông Vị đến vóc gầy, đầu bạc. Có những hôm nắng ấm, nơi suối cạn, lũ trẻ con tranh nhau dầm chân xuống nước. Một cảm giác mát lạnh, lâng lâng. Rồi chúng tát nước vào nhau, lúc chững lại lội xuống khuấy bùn đất lên đục ngầu, nhưng vài phút sau, lên bờ lại có thể soi mặt ngay vũng nước ấy. Nước chóng trong như tâm hồn trong trắng của lũ trẻ. Nô giỡn đến mệt nhoài, các chú nhóc leo lên đồi nằm nghỉ ngửa mặt nhìn vòm trời xanh bao la vời vợi. Lúc khát nước, các chú đào củ “mưa đá” nhai hay uống. Ai lại trở xuống suối vốc nước cho phiền! Sẵn “cây mưa đá” ở bên cạnh, có hoa vàng, nhỏ như ngón tay, cao chừng một tấc, lũ trẻ chỉ cần một cành thông, cũng ở đâu đó bên chỗ nằm, xới đất sâu độ nửa gang, tìm được ngay một củ “hoa mưa đá” to bằng ngón tay cái. Gỡ vỏ, “củ hoa” trắng tinh. Ai mà cầm lòng được? Và thế, trẻ nhai ngấu nghiến, rất ngon lành. Một cảm giác dèo dẻo ở đầu lưỡi. Và trẻ con hết khát. Trong ý nghĩ của trẻ con Đà Lạt, thì khi những trận mưa đá đầu mùa trút xuống cao nguyên, có những hạt nước đá to bằng ngón tay mà trẻ thường thấy sau cơn mưa, trên cỏ, trên sân, trên hoa, trên lá… những hạt mưa ấy chui lọt xuống lòng đất nằm chờ cho đến cuối mùa mưa, ngoi lên mặt đất, nở hoa vàng mời mọc những bạn quen tìm kiếm đã nô giỡn với chúng, đã nâng niu chúng, bỏ vào những chiếc lon, những cái ly lạnh buốt nên chốc lát chúng tan biến đi như những viên ngọc của những nàng tiên không bao giờ ấm tay người trần thế vô duyên. Truyền thuyết ấy sống mãi trong tâm trí các chú bé Đà Lạt mỗi khi nhai ngấu nghiến củ mưa đá. Có lẽ sự mát lạnh của huyền thoại về những cơn mưa đầu mùa ngấm vào tâm hồn trẻ thơ hơn là tác dụng của củ hoa hoang dã đối với vị giác của lũ bé con chưa từng quen cay đắng của cuộc đời?

Có một dạo Đồi Cù vắng bóng “hoa mưa đá”. Hồi cuối những năm 60 khi xe Sach và Goebel không còn được ưa chuộng, khi xe Honda được dân Đà Lạt mến yêu. Bước chuyển sở thích về xe ấy lại là một tai họa cho loài “hoa mưa đá”, tai họa cho huyền thoại, tuổi thơ Đà thành. Xe Honda tràn lên Đồi Cù. Một môn gọi là “thể thao” mới xuất hiện: đua Honda trên thảo nguyên. Những chiếc xe thi nhau lao lên không trung, rơi xuống, điên cuồng, cày nát không biết bao nhiêu vùng cỏ hoa hoang dã. Sự diệt chủng của một loài hoa không ngờ chỉ vì một trò chơi nhất thời của con người! Dù cho hoa mưa đá đã hiểu thân phận của mình, nên không rực rỡ khoe màu mà sống âm thâm với cỏ dại, hòa mình với màu đất, màu trời! Còn chú bé nào không chịu lôi cuốn trong phong trào “phi Honda” ấy muốn kiếm những củ “hoa mưa đá” trong cơn khát nước phải đợi đến mùa sau! Những mùa sau biết ai còn trở lại? Và biết đâu những tai ương khác lại không đến với muôn loài?

Sườn đồi nhìn về phía trường Bùi Thị Xuân, từ dòng suối qua chiếc cầu nhỏ, khách đi thêm một đoạn đường mòn sẽ gặp nhữmg bụi cây đặc biệt của Đà Lạt: những bụi cây đuôi chồn. Người yêu hoa hồng, cẩm chướng, muốn một bình hoa đẹp thì phải tìm cho được vài lá đuôi chồn để cắm chung. Ai ngờ hoa lá khác loài mà sống chung lại hòa hợp thẩm mỹ đối với khách yêu hoa. Nhưng lũ trẻ chưa đến kỳ yêu hoa, chúng chỉ tìm thấy ở đuôi chồn một phương tiện đùa giỡn lý thú: những chiếc gậy con con, màu nâu đen ngộ nghĩnh đẹp như tuổi thơ của chúng. Thế là chúng chia phe, dùng gậy đuôi chồn khèo nhau chơi, và tiếng cười trong trẻo liên tục truyền đi, lắng tỏ giữa vùng đồi núi mát dịu một màu xanh mênh mông. Có hôm mây trắng ở đâu bay về thật nhiều, hình như có tơ trời nữa. Lũ trẻ cứ nhìn mây trắng và tơ trời ngang qua đầu mà sờ sững, có đứa dùng cây gậy đuôi chồn đưa lên không quyết “khèo” cho được một áng mây qua! ở những thảo nguyên của á châu trầm lắng, người ta có ý tưởng hoặc cảm nhận như trẻ của Đà thành không?

Trước 1975, khách cũng có đến chơi Đà Lạt, tuy không ồ ạt, náo động như bây giờ. Cũng có người lên Đồi Cù nhưng họa hoằn mới mò đến tận Golf Club, nơi các đoàn thể thanh niên học sinh sinh viên thường sinh hoạt. Có một dạo, trong ngôi nhà Golf Club vang vọng tiếng nhạc dân ca quốc tế, nhạc của Trịnh Công Sơn. Thỉnh thoảng ở đây thanh niên nam nữ tập vũ, diễn kịch. Qua cửa kính, khách bước Polka, Nazurka… và nếu ai chú ý, những người say sưa tập vũ, đóng kịch ấy lại có mặt trong các buổi biểu tình đấu tranh ở thành thị. Những kỷ niệm đã qua có còn trở lại?

Những ngày Đà Lạt thật yên, trên đỉnh Đồi Cù vẫn lộng gió. Ta cứ ngỡ gió xôn xao kéo về từ phía hồ Xuân Hương, nơi những chiếc xe đạp nước đang lặng lờ di động. Ngồi trên đồi cao ngắm hồ, ta thấy tâm hồn yên tĩnh lạ thường. Tuổi ấu thơ nhiều thần thoại hình như được quay phim trở lại. Không hẹn mà khách trần ai bỗng trầm lặng. Có lẽ thiên nhiên và con người trong một khoảnh khắc đã hòa hợp cảm thông thực sự với nhau.

Nhà Thờ Chánh Tòa Đà Lạt: Nhà Thờ Con Gà

Nhà thờ Chính tòa Ðà Lạt là một trong những nhà thờ công giáo ở Việt Nam có tên gọi khác là nhà thờ Con Gà vì trên đỉnh tháp chuông có hình con gà lớn. Đây là nhà thờ chính tòa của vị giám mục Giáo phận Đà Lạt, cũng là nhà thờ lớn nhất Đà Lạt, một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu và cổ xưa nhất của thành phố này do người Pháp để lại.

 

Nhà thờ nằm trên đường Trần Phú (gần khách sạn Novotel) thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.

Lịch sử

Lịch sử Nhà thờ chính tòa Đà Lạt gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Đà Lạt.

Cùng với bác sĩ Alexandre Yersin khám phá ra Đà Lạt, có linh mục Robert thuộc Hội Linh mục Thừa sai Paris (MEP) vào năm 1893. Đến 1917, linh mục quản lý của MEP tại Viễn Đông là cha Nicolas Couveur đã đến Đà Lạt với mục đích tìm nơi nghỉ dưỡng cho các giáo sĩ, và đã cho xây dựng một dưỡng viện giáo đồ nay là một phần của nhà xứ. Vào cuối tháng 4, 1920, Giám mục Quinton (Giám quản Tổng tòa tại Sài Gòn) ban quyết định thành lập Giáo phận Đà Lạt.[1]

Ngày 10 tháng 5, 1920, linh mục Frédéric Sidot là cha xứ đầu tiên của giáo sở Đà Lạt. Cha Sidot đã cho xây dựng ngôi thánh đường “HIC DOMUS EST DEI” dài 24m, rộng 7m và cao 5m. Nhà thờ này được gắn liền với cánh bên tả dưỡng viện giáo đồ mà cha Nicolas đã cho xây. Cửa chính của nó được cấu trúc theo hình vòng cung nhọn, riêng phần chạm trổ và sơn son thiếp vàng thì theo kiểu Á Đông. Trên vòng cung của cửa chính, có khắc dòng chữ tiếng la tinh “HIC DOMUS EST DEI” (đây là nhà của Thiên Chúa).[1]

Ngày 5 tháng 7, 1922, Giám mục Quiton ban quyết định cho phép Giáo phận Đà Lạt xây một nhà thờ mới: rộng 8m, dài 26m có một tháp chuông cao 16m. Công trình được khánh thành vào ngày 17 tháng 2, 1923. Trên tháp có treo 4 quả chuông do hãng Pacard thuộc tỉnh Savoie (Pháp) chế tạo. Công trình này hiện nay không còn tồn tại.

Nhà thờ chính tòa Đà Lạt hiện nay được chính thức khởi công vào 9 giờ sáng chủ nhật ngày 19 tháng 7, 1931 do giám mục Colomban Dreyer (khâm sứ Toà Thánh tại Đông Dương và Thái Lan) đặt viên đá đầu tiên. Được xây theo đồ án của linh mục Céleste Nicolas, cha sở lúc bấy giờ.[1]

Công trình được xây dựng trong suốt 11 năm. Quá trình xây dựng được chia làm 3 đợt như sau:

  • Đợt 1: Xây dựng gian cung thánh, hậu tẩm, 2 gian cánh,hoàn tất vào ngày 30 tháng 3, 1932.
  • Đợt 2: Xây dựng 2 gian giữa và đặt chân móng cho các tháp chuông.
  • Đợt 3: Xây dựng tháp chuông chính, 2 tháp chuông phụ, cầu thang xoắn trôn ốc. Ngày 14 tháng 11, 1934, đặt thánh giá trên đỉnh tháp chuông chính. Ở đỉnh tháp có gắn một con gà bằng đồng dài 0,66m, cao 0,58m. Vào tháng 2, 1942, tổ chức nghi thức làm phép và đặt 14 chặng đàng thánh giá trong gian chính của tòa nhà.

Nhà thờ khánh thành ngày 25 tháng 1, 1942.

Kiến trúc

Nhà thờ Con gà được thiết kế theo “kiểu mẫu” của các nhà thờ Công giáo Rôma ở châu Âu, tiêu biểu cho trường phái kiến trúc Roman.

Mặt bằng nhà thờ theo hình chữ thập (giống thánh giá) có chiều dài 65m, rộng 14m, tháp chuông cao 47m. Với độ cao đó, từ tháp chuông của nhà thờ có thể nhìn thấy mọi nơi của thành phố. Cửa chính của nhà thờ hướng về núi Langbiang.

Nội thất thánh đường gồm 3 gian: 1 gian lớn ở giữa và 2 gian nhỏ ở hai bên. Mặt cắt công trình thể hiện rõ hệ cuốn theo dạng cung nguyên với dãy cuốn và hệ vòm nôi. Các cột trong nội thất có hệ đầu cột mô phỏng dạng cổ điển kết hợp với tự phát. Cả mặt bằng và mặt đứng đều được thiết kế đối xứng nghiêm ngặt theo lối cổ điển.[1]

Mặt đứng với phần tháp chuông vươn cao. Những đường nét, chi tiết trên mặt đứng hoàn toàn phỏng theo nguyên gốc của các kiểu mẫu châu Âu. Cửa sổ có vòm cung tròn, các đường nét mạnh mẽ, dứt khoát, tổ chức theo phân vị đứng, mái lợp ngói thạch bản, đặc biệt là tỷ lệ giữa các mảng khối rất hài hoà và chặt chẽ.

Phần áp mái trang trí bằng 70 tấm kính màu do xưởng Louis Balmet ở Grenoble (Pháp) chế tạo, làm cho khung cảnh thánh đường thêm phần huyền ảo.[2]

Tường chịu lực xây dựng bằng gạch đá dày khoảng 30 – 40cm. Trên tường trong nội thất được gắn các bức phù điêu với kích thước 1m x 0,8m, làm bằng vật liệu xi măng và sắt (do nhà điêu khắc Xuân Thi thể hiện). Riêng phần tường ngoài luôn được quét sơn màu hồng, càng tôn thêm sự trang nghiêm của một công trình kiến trúc tôn giáo.[1]

Trên thánh giá có tượng một con gà (cách mặt đất 27m) bằng hợp kim nhẹ rỗng bên trong được tráng phủ một lớp hoá chất đặc biệt đồng dài 0,66m, cao 0,58m quay quanh một trục bạc đạn để chỉ hướng gió. Con gà có thể là biểu tượng của nước Pháp (Coq gaulois: gà trống xứ Gaulle),có thể là biểu tượng của sự sám hối, theo đoạn Tân Ước kể lại việc Chúa Giê-su quở trách Phê-rô (một trong 12 tông đồ của Người): “Ðêm nay gà chưa gáy, con sẽ chối Ta ba lần…”.

Cột thu lôi, đế bầu tròn đỡ con gà và chữ thập chỉ bốn hướng đông-tây-nam-bắc được sửa chữa, thay mới vài lần. Con gà xoay theo hướng gió trên một vòng bạc rất nhẹ. Người dân bản xứ kháo nhau rằng con gà là đài dự báo thời tiết rất hiện đại, con gà quay chiều nào là gió mưa, là nắng tạnh. Thực ra vì con gà ở trên cao, để phòng gió tạt gãy đổ người ta đã thiết kế cho nó quay hướng theo chiều gió, và thế là con gà quay hướng nào, gió hướng ấy.



Vào dịp Lễ Giáng sinh hàng năm, nơi đây thu hút rất nhiều người cả trong và ngoài đạo đến dự lễ tham quan. Ngoài ra, ở Đà Lạt còn rất nhiều nhà thờ nhỏ hơn trong đó Domaine de Marie (Lãnh địa Đức Bà) và nhà thờ Cam Ly mang những nét đặc trưng riêng .[3]