Tag Archives: đà lạt xưa

Nghĩ Về Đà Lạt

Hơn 10 năm trước  đọc truyện ngắn “Đà Lạt trong sương”. Từ đó vấn vương cái tên gọi Đà Lạt, những đồi thông, những biệt thự u tịch, làn sương ẩm ướt, nỗi buồn lưu cữu và thanh tao. Chưa gặp đã đem lòng yêu.

Sáng nay tôi ngồi trong tiệm café, trên véran – da ngôi nhà vốn là biệt thự, cách hồ Xuân Hương vài ba trăm mét. Trước mắt, mặt nước, rồi đồi Cù lững thững mấy cây thông trên nền cỏ chải chuốt, rồi tít tấp xa xa bóng dáng dãy Langbiang. Bầu trời xanh vắng sương vắng mây. Thân hình một cây thông đơn côi, đen đủi cuốn hút tâm trí tôi. Vài cái cành, cũng đen đủi, bị đốn lưng chừng, hệt như người bị chặt tay, hệt như con cua bị bẻ càng.

Chạnh lòng liên tưởng bức hoạ của Salvatore Daly: Trên nền trời sáng choang mà không ánh nắng, trong bầu không khí vắt kiệt nước, một thi thể con người chết mà không rữa, phanh cái ngực với bộ sườn như thể phím đàn, một con nhặng giống thật hơn thật ghim ở một góc. Khúc gỗ thông đặt ở góc véranda tôi ngồi, tưởng như cũng lồng ghép vào bức hoạ đó. Vì sao người ta đặt nó ở đây nhỉ? Phần lưu lại của một cây thông kỷ niệm nào đó chăng? Nay mai biết đâu người chủ tiệm lại xin về một đoạn của cái cây còn đứng kia, đặt vào góc đối diện cho cân xứng?

Nén suy tưởng siêu thực đi, tôi hướng mặt về bên kia hồ, phía tay trái: khu chợ trung tâm, một khối kiến trúc trắng chói lòa, chen lèn nhau về các hướng. Tràn trề sức sống và sự chuyển động, Đà Lạt hôm nay xem ra không có gì liên quan đến hình ảnh cây thông cành cụt kia. Nó lan tỏa ra, đồ sộ lên, giàu có lên trông thấy. Ví sự phát triển bùng nổ này với cái cây tươi tốt, mới phải.

Thế nhưng tôi không tài nào thoát khỏi sự cảm nhận gia tăng sau mỗi lần trở lại: Cái cây đang lớn nhanh cả về chiều rộng lẫn chiều cao ấy, đang vô tình cầm con dao dựa, cúi xuống băm vào gốc rễ mình.

…Có những cái gì đó đang mất mát đi, đang tan vỡ đi trong cơ thể đô thị, có lẽ tinh tế nhất, trọn vẹn nhất trên đất nước mình.

Đà Lạt, đô thị hầu như duy nhất ở nước ta có ngày sinh tháng đẻ chính xác, được tạo dựng nên lần đầu tiên trong lịch sử xây dựng của nước nhà chỉ để làm nơi nghỉ dưỡng. Một đô thị xây dựng ngay từ đầu theo ý tưởng và quy hoạch nhất quán, bởi thế mà, chỉ qua vài ba thập kỷ, đã kịp định hình cho mìn diện mạo riêng.

Đà Lạt, cũng có thể là duy nhất trong các đô thị ở nước ta, trong công cuộc hiện đại hóa tất yếu, có cơ may giữ lại và phát huy tính thống nhất giữa thiên nhiên và đô thị, tinh hài hòa trong chuyển hóa không gian và kiến trúc.

Đà Lạt là một hiện tượng đô thị. Người châu âu gọi là urban phenomenon. Cái hiện tượng, cái phenomenon ấy được tạo nên bởi sự hòa nhập kỳ diệu giữa thiên nhiên, trời phú cho, và đô thị, Người dựng nên. Hòa nhập một cách hữu cơ, một cách tự nhiên, đến mức tưởng như không thể nào tạo lập khung cảnh trời đất phù hợp hơn cho phong cánh kiến trúc này, cùng như không thể nào tạo lập khung cảnh kiến trúc phù hợp hơn cho khung cảnh trời đất này.

Hơn thế nữa, Đà Lạt là một mẫu mực về sự ứng xử văn hóa đối với tạo hóa, khi con người kiến tạo những thiết chế sống của mình, – ngôi nhà và đô thị. Một sự thế nghiệm, khởi xướng cách đây ngót thế kỷ, của nền xây dựng đô thị thời hậu hiện đại, hướng vào thiên nhiên, – đô thị sinh thái.


Hồ Xuân Hương

Đà Lạt cho đến hôm nay vẫn đang sở hữu một hệ thống tài nguyên: Thiên nhiên, cảnh quan nhân văn hóa, quỹ đô thị, quỹ kiến trúc và văn hóa sống đô thị. Hễ một trong số tài nguyên này bị suy suyển, là cái tổng thể trọn vẹn bị xộc xệch. Hễ các tài nguyên cùng bị suy suyển, là cái tổng thể trọn vẹn, mệnh danh là Đà Lạt, tan vỡ.

Sự tan vỡ đã bắt đầu nhận ra rồi.

Nhìn từ máy bay, khi nó giảm độ cao để đáp xuống Liên Khương, ta có thể nhận thấy rõ và đầy đủ mức độ can thiệp nghiêm trọng như thế nào vào tòa thiên nhiên. Những mảnh rừng sót lại giống như những mảng vá. Đất đai bị cày xới, đào khoét.. Một vùng đất trời vốn bát ngát, vốn xanh tươi và mát lành, co lại dần thành những ốc đảo. Vào cửa ngõ thành phố, thấy những cánh rừng thông. Tiến sát vào trung tâm, rừng thưa nhanh. Nhiều nơi thưa thớt vài cây, xa lạ ngay trên mảnh đất của chính mình. Đà Lạt vốn là thành phố của những cây thông. Thiếu bóng dáng cây thông, thiếu rừng thông, Đà Lạt liệu còn có là nó nữa không? Nghe nói, gần đây đã trồng mới gần 40 ha rừng thông. Có lẽ là ở ngoại ô. Còn ở khu trung tâm số còn lại có thể đếm được. Đã đến lúc phải kiểm kê từng cây, nhất là những cây cao tuổi, để bảo vệ như là vốn liếng. Quanh hồ Xuân Hương đã được tôn tạo, trồng nhiều loại cây: tùng, xá xị, long não, thông… Song thông, vì lí do nào đó, trồng ít. Trên đất Đà Lạt, thông đứng đâu cũng đẹp. Những khoảng trống vắng chỉ có thể lấp đầy bởi những cây thông mà thôi.

Hãy thử tạo nên một cái lệ mới: Hễ có người mới sinh ra, trồng một cây thông. Có người kết hôn, trồng hai cây thông. Có người ra đi, trồng một cây. Vĩnh cửu hóa những chặng đường của kiếp làm người bằng những cây thông, xem ra ta đã dựng những “tượng đài” xanh triết lý nhất cho mình.

Ở nước ta chỉ có hai đô thị mà trung tâm là hồ.

Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội nối phần đô thị Việt với phần đô thị thời thực dân thành một thể thống nhất. Nơi phố xá chật hẹp, vẫn có chỗ cho cảnh, cho cõi tâm linh. Hồ Xuân Hương ngay từ đầu đã được các nhà quy hoạch coi là trung tâm, nhưng không bằng việc xây cất quanh nó những công trình to tát, mà bằng cách né tránh, để nguyên vẹn, ngoại trừ con đường bao quanh. Từ khu trung tâm, nơi nhà thờ Con Gà và khách sạn Palace tọa lạc, cả một khung cảnh giang sơn tít táp mở ra cho đến tận chân trời, án ngữ bởi dãy Langbiang mà thôi.

Các đường phố được lồng ghép khéo léo vào thế núi đồi, tối thiểu hoá mọi sự can thiệp và bộc lộ rõ những ưu thế của từng vị trí đất. Công sở, dinh thự, biệt thự, bố cục phân tán trong không gian đồi thông và những con đường xen kẽ. Cùng với quy mô chừng mực của kiến trúc, lối quy hoạch này tạo nên cấu trúc không gian chuyển hoá mềm mại, hệ tỷ lệ xích tinh tế cho đô thị. Chính cái sự tinh tế này đang bị xâm hại một cách sở thị nhất. Ở nhiều nơi sườn núi bị san ủi để chia lô xây nhà mạt phố. Lối quy hoạch nhà liền kề nhan nhản khắp các đô thị nước ta, ở đâu chứ ở Đà Lạt thì quả là dị thể. Không gian giữa những tòa nhà, vốn để không mà không trống, bị xen cấy vào những công trình mới, to quá cỡ, bởi kiểu cách và màu sắc thách thức. Vài con đường mở rộng quá khổ, ở giữa khu trung tâm cũ đã định hình. Thế là, cơ thể đô thị nhuần nhị tan vỡ, sự thống nhất trọn vẹn suy suyển. Có lẽ là mãi mãi.

Quỹ kiến trúc Đà Lạt đặc trưng bởi bộ sưu tập các loại hình và phong cách kiến trúc Pháp thời kỳ chuyển tiếp từ chủ nghĩa cổ điển sang kiến trúc hiện đại. Tuy tiền mẫu của các công trình kiến trúc này dễ dàng tìm thấy ở các địa phương của nước Pháp, song không thể phủ nhận rằng chúng hoàn toàn phù hợp với các điều kiện thiên nhiên và khí hậu Đà Lạt, phù hợp trên mức có thể với cảnh quan trời đất ở đây. Sở dĩ cái vốn kiến trúc đó đã trở thành hữu cơ và trở thành khuôn mặt riêng tư của Đà Lạt, bởi từng ngôi nhà đã được chọn đúng kiểu dáng và đặt đúng chỗ, từng ngôi nhà đều có sự chuyển tiếp tự nhiên từ đất lên và ăn nhập với chính chỗ nó đứng. Từng ngôi nhà được lồng cấy vào khung cảnh, không ngự trị, càng không chiếm lĩnh. Véranda, hiện diện ở từng ngôi nhà, tạo nên sự chuyển tiếp từ những căn phòng ngăn kín sang thiên nhiên. Nó như con mắt của biệt thự, hướng nhìn vào cảnh trí. Khi biệt thự biến thành chung cư, véranda biến thành chỗ ở, con mắt ấy đã nhắm lại.

Không rõ, trong số hơn hai nghìn biệt thự, bao nhiêu cái còn được sử dụng với chức năng cũ, bao nhiêu cái dùng làm chung cư hoặc bị bỏ hoang. Dinh thự biệt thự ở Đà Lạt là một quỹ kiến trúc vô giá về mát tài sản vật chất, sử dụng, kiến trúc, cảnh quan và thẩm mỹ. Một ngày nào đó, quỹ kiến trúc này sẽ được công nhận là di sản văn hoá. Tất nhiên, nếu nó còn.

Đà Lạt là tác phẩm của nền kiến trúc phong cảnh. Song cái tính chất kiến trúc phong cảnh đó không được tạo nên bởi hệ thống những vườn hoa và những công viên như thông thường, mà bởi chính cái nền cảnh thiên nhiên, trong đó kiến trúc chỉ là sự bổ sung vào, do đó, làm các vườn hoa, các công viên phong cảnh hoặc những tiểu cảnh trong các khuôn viên là chưa đủ, chưa hẳn là cách ứng xử đặc thù cho riêng Đà Lạt, mà phải chăm sóc và khôi phục cái vườn hoa vĩ đại Trời cho, – cảnh quan thiên nhiên. Vâng, đã đến lúc phải đặt vấn đề khôi phục cảnh quan, như một tài nguyên, như một di sân. Nó là cái nôi của thành phố này.

Nói về văn hóa sống của một chốn đô thị, vốn là nơi nghỉ dưỡng mới hơn trăm tuổi, có vẻ vội vàng chăng? Song, không thể không nhận ra những nét riêng trong cốt cách, trong cách sống của người Đà Lạt. Thành phố này đã thu hút người tứ xứ đến nghỉ, đến định cư lâu dài. Nông dân xứ Bắc, quen thâm canh ruộng, đến đây thâm canh nghề vườn. Những làng- vườn, góp phần tạo nên bản sắc và cảnh sắc cho thành phố, giống như các đô thị truyền thống ở ta, vừa có thị lại vừa có thôn. Người từ các tỉnh về đây làm việc phục dịch cho người Tây và người Ta nghỉ mát. Ấy là chưa nói đến những gia đình trí thức tiểu tư sản từ Bắc kỳ kéo nhau vào để tìm nơi chốn yên ắng. Hình như bây giờ lác đác cũng có những người nghĩ theo cách đó. Người Pháp đến đây không chỉ để tránh cái nóng dưới đồng bằng. Năm 1948, trong số một vạn rưỡi dân, đã có hơn hai ngàn người Pháp. Lối sống, lối nghĩ của các cộng đồng dân cư dần dà đã hoà trộn, quện xoắn vào nhau, tạo nên sắc thái riêng trong văn hóa đô thị Đà Lạt. Thiên nhiên, cảnh quan, đô thị, kiến trúc, hình thái hoạt động xã hội, cùng với sự cộng sinh văn hoá của các miền và các xứ, đã nhào luyện nên bản sắc trong văn hoá sống của người Đà Lạt. Nó là thành phần hữu cơ của cơ thể đô thị Đà Lạt thống nhất nhuần nhuyễn. Về phương diện này, cũng đang diễn ra sự xộc xệch nào đó. Giữa các đô thị bành trướng nhanh và sống quay cuồng, ta thèm muốn giữ lại những đô thị mà người dân đi không vội, ăn không nhanh, nói không to. Vẫn giữ được cái sự hiền từ. Đà Lạt có cơ may là thành thị như thế.

Thả bộ giữa Đà Lạt, nhận thêm ra những dấu hiệu làm ta e ngại về sự tan vỡ trong phát triển. Hình bóng nhà thờ Con Gà như một tín hiệu của Đà Lạt đã bị những khối nhà che lấp hẳn. Ở các làng hoa, nhà cửa trở nên hỗn độn. Con suối Cam Ly cuốn theo khí nặng của nền văn minh hiện đại. Năm chiếc cầu bê tông vươn ra mặt hồ Xuân Hương làm theo kỹ thuật nhân bản vô tính. Nghe nói, khách sạn Ngọc Lan, đứng trên đồi, sắp lên chín tầng, thách đố núi đồi chăng?

Đà Lạt phát triển nhanh quá: to và rộng ra, đông lên, đường thênh thang, nhà mới nhiều, đời sống khấm khá lên. Hiện đại hóa và đô thị hóa là con đường chung. Phát triển không kém ai, nhưng vẫn phải là “mình”. “Mình” ở đây là hệ thống “gien” của Đà Lạt, nếu được duy trì và phát huy. Chúng tiềm ẩn trong thiên nhiên, trong đô thị, trong kiến trúc, trong nếp sông…

Đà Lạt đã có cái cốt, cái nhân.

…Tôi mơ những rừng thông trở về che phủ cho những mái nhà và những đường phố cũ của Đà Lạt. Tôi mơ những khu xây dựng mới sẽ nhũn nhặn núp mình dưới những rặng thông. Và làn sương ẩm ướt sẽ lan tỏa mãi mãi trên cái sự nhất thể kỳ diệu giữa Đất- Trời – Kiến trúc-Con người, mệnh danh là Đà Lạt.

Advertisements

NIÊN BIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

Từ xa xưa, bộ tộc người Lạch, Chil sinh sống trên cao nguyên Lang Biang, người Srê sống trong buôn Tơrnun (nay thuộc xã Tà Nung).

1881 Bác sĩ Paul Néis và trung uý Albert Septans thám hiểm cao nguyên Lang Biang.

1893 Ngày 21-6, bác sĩ Alexandre Yersin đến cao nguyên Lang Biang.

1897 *   Ngày 19-7, bác sĩ Alexandre Yersin gửi thư đến Toàn quyền Paul Doumer đề xuất chọn cao nguyên Lang Biang lập nơi nghỉ dưỡng.

*   Phái đoàn Thouard nghiên cứu tìm một con đường từ Nha Trang lên cao nguyên Lang Biang.

1898 * Thành lập trạm nông nghiệp và trạm khí tượng tại Đăng Kia.

1899 * Toàn quyền Paul Doumer cùng bác sĩ Alexandre Yersin tiến hành khảo sát cao nguyên Lang Biang.

*   Đại uý Guynet xây dựng con đường từ Ninh Thuận lên cao nguyên Lang Biang.

1899 Ngày 1-11, Toàn quyền Paul Doumer ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và hai trạm hành chính ở Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Biang.

1900 *   Hoàn thành đường bộ Tháp Chàm – Xóm Gòn – Dran – Đà Lạt.

*   Dựng nhà Đốc lý ở Đà Lạt.

1901 Toàn quyền Paul Doumer quyết định lập tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt.

1902 Toàn quyền Paul Doumer về Pháp, dự án đồ sộ xây dựng thành phố Đà Lạt bị ngưng lại.

1903 Bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, trạm hành chính Lang Biang trực thuộc đạo Ninh Thuận.

1906 Hội đồng Quốc phòng Đông Dương họp ở Đà Lạt quyết định chọn cao nguyên Lang Biang làm nơi nghỉ dưỡng.

1907 Xây dựng Hôtel du Lac.

1908 Chuyển trạm nông nghiệp từ Đăng Kia về Đà Lạt.

1909 Chuyển trạm khí tượng từ Đăng Kia về Đà Lạt.

1911 Toàn quyền Albert Sarraut chủ trương cho xây dựng gấp đường giao thông lên Đà Lạt.

1912 Tiếp tục xây dựng đoạn đường sắt từ Phan Rang đến Xóm Gòn bị bỏ dở từ năm 1902.

1913 Xây dựng đường Phan Thiết – Ma Lâm – Djiring.

1914 * Chiến tranh thế giới lần thứ nhất xảy ra, nhiều người Pháp lên Đà Lạt nghỉ dưỡng.

* Chiếc ô tô đầu tiên từ Phan Thiết lên Đà Lạt.

1916 * Ngày 6-1, Toàn quyền Roume ký Nghị định thành lập tỉnh Lang Biang.

* Ngày 20-4, Hội đồng nhiếp chính triều đình Huế thông báo Dụ thành lập thị tứ
Đà Lạt.

* Ngày 30-5, Khâm sứ J.E. Charles ký Nghị định thành lập thị tứ Đà Lạt.

* Khởi công xây dựng khách sạn Langbian Palace.

1918 * Tạp chí Nam Phong đăng bài Lâm Viên hành trình nhật ký của Thượng thư Đoàn Đình Duyệt.

* Lập dưỡng viện thừa sai.

1919 * Ngăn đập tạo hồ trên dòng suối Cam Ly.

* Ngày 20-12, khai giảng trường Nazareth.

1920 * Ngày 31-10, Toàn quyền Maurice Long ký Nghị định thành lập thị xã Đà Lạt, Sở Nghỉ dưỡng Lang Bian và Du lịch Nam Trung Kỳ.

* Xây dựng đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt.

* Xây đình Đa Lạc.

* Thành lập ấp Tân Lạc.

* Xây dựng Kho bạc Đà Lạt.

1921 * Xây dựng bưu điện.

* Thành lập trạm xá đầu tiên ở Đà Lạt.

* Xây dựng chùa Linh Quang

1922 * Khánh thành khách sạn Langbian Palace (nay là Sofitel Dalat Palace).

* Khởi công xây dựng khách sạn Hôtel du Parc (nay là Novotel Dalat).

1923 * Hoàn thành đồ án quy hoạch Đà Lạt của kiến trúc sư Ernest Hébrard.

* Xây dựng đập thứ hai trên dòng suối Cam Ly phía dưới đập được xây dựng năm 1919.

1927 * Khởi công xây dựng trường Petit Lycée.

* Thành lập Sở Trà Cầu Đất, lập các làng Trường Xuân, Trạm Hành.

* Bão lớn phá huỷ đập ngăn suối Cam Ly và đập của nông trại O’Neill.

1928 * Thành lập Trường Tiểu học Đà Lạt.

* Khánh thành nhà máy điện.

1929 * Khởi công xây dựng trường Grand Lycée.

* Thành lập chi bộ Tân Việt.

1930 Thành lập chi bộ Đảng Cộng sản.

1931 * Chợ Cây bị cháy.

1932 * Hoàn thành đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt.

* Khởi công xây dựng Ga Đà Lạt.

* Khai thông đường Sài Gòn – Đà Lạt qua đèo Blao (quốc lộ 20 hiện nay).

1933 * Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ Đà Lạt trăng mờ và Quách Tấn sáng tác bài thơ Đà Lạt đêm sương.

* Hoàn tất giai đoạn đầu việc xây dựng phi trường Liên Khương.

1934 * Xây dựng đập tạo thành Hồ Lớn (Grand Lac, hồ Xuân Hương này nay).

* Xây dựng chợ Đà Lạt.

1935 * Thành lập Công ty Du lịch.

* Khánh thành Trường Trung học Yersin.

1936 * Khánh thành Viện Pasteur, trường Couvent des Oiseaux (Notre Dame du Langbian).

* Khánh thành sân golf 9 lỗ.

* Xây dựng nhà thờ Tin Lành.

* Đình công tại Sở Trà Cầu Đất.

1937 * Khai thông quốc lộ 21 nối liền Đồng Nai Thượng với Đắc Lắc.

* Khánh thành Dinh Toàn quyền (Dinh II).

* Khai giảng trường Petit Lycée.

* Thành lập nhóm Tiến Bộ, mở hiệu sách Hồng Nhật.

1938 * Thành lập ấp Hà Đông.

* Khánh thành nhà ga Đà Lạt.

* Xây dựng nhà máy nước gần hồ Than Thở.

* Công nhân hãng SIDEC đình công.

* Ngày 1-5, Hội Thanh niên Du lịch và nhóm Tiến Bộ tổ chức mít tinh tại khu rừng Cam Ly.

1939 * Thành lập trường Thiếu sinh quân Đà Lạt.

* Thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ, Hội Ái hữu.

1940 * Thành lập ấp Nghệ Tĩnh.

* Khánh thành chùa Linh Sơn.

* Thành lập Uỷ ban Mặt trận phản đế ( Lâm Viên – Đà Lạt) .

1941 * Ngày 8-1, Toàn quyền Decoux ký Nghị định tái lập tỉnh Lang Bian.

* Kiến trúc sư J. Lagisquet thiết lập đồ án chỉnh trang và phát triển Đà Lạt.

1942 * Khởi công xây dựng nhà máy thuỷ điện Ankroet.

* Khánh thành nhà thờ Chánh Toà.

1943 * Xây dựng đường Prenn mới.

* Khánh thành nhà thờ Domaine de Marie.

1944 * Nhà máy thuỷ điện Ankroet hoạt động.

* Chuyển Trường Kiến trúc từ Hà Nội vào Đà Lạt, thành lập lớp Dự bị Đại học đầu tiên tại Đà Lạt.

* Dời Sở Địa dư Đông Dương từ Gia Định lên Đà Lạt.

1945 * Tháng 5,  Thành lập Uỷ ban Mặt trận Việt Minh Đà Lạt, Tỉnh bộ Việt Minh lâm thời  tỉnh Lâm Viên.

* Ngày 23-8, nhân dân Đà Lạt khởi nghĩa giành chính quyền.

* Ngày 24-8, thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên.

1946 * Thực dân Pháp tái chiếm Đà Lạt.

* Ngày 13-4, Ban Chấp hành Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Lâm Viên họp hội nghị tại Đá Trắng  (Ninh Thuận).

* Từ ngày 19-4 đến 13-5, Đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cộng hoà Pháp họp Hội nghị trù bị Đà Lạt.

1947 * Tháng 3, thành lập Trường miền núi Lang Biang (Ecole montagnarde du Langbian) dành cho học sinh dân tộc thiểu số bản địa.

* Mở rộng phi trường Liên Khương.

1948 Thông tuyến hàng không Hà Nội – Đà Lạt.

1949 * Xây dựng nhà máy nước gần Hồ Lớn.

* Ngày 8-3, thành lập Hoàng triều Cương thổ, Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ và Cao nguyên Trung Phần.

* Tháng 4, Thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên.

1950 * Chuyển Trường Võ bị ở Huế vào Đà Lạt.

* Thành lập tổ chức Phụ nữ Minh Khai.

* Tháng 6, Thị uỷ Đà Lạt xuất bản tờ Tin Đà Lạt.

* Tháng 10, Hội nghị sáp nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng tổ chức tại Ô Rô (chiến khu Lê Hồng Phong ở Bình Thuận).

* Thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Lâm Đồng.

* Ngày 14-12, Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung Bộ Nguyễn Duy Trinh ký Nghị định sáp nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.

1951 * Ngày 22-2, Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng ký Nghị định hợp nhất hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành một tỉnh lấy tên là tỉnh Lâm Đồng.

Thành lập đội cảm tử Phan Như Thạch.

* Ngày 11-5, thực dân Pháp đưa 20 người bị giam tại nhà lao Đà Lạt đi xử bắn tại gần sân bay Cam Ly để trả thù việc tổ cảm tử diệt tên Haasz – Chánh  Thanh tra Mật thám Đà Lạt.

* Tháng 11, Hội nghị củng cố Thị uỷ Đà Lạt và Uỷ ban Kháng chiến Hành chính thị xã Đà Lạt.

1952 * Thành lập ấp Ánh Sáng và làng Đa Phú.

* Tháng 9, khai giảng Trường Trung học Việt Nam đầu tiên.

1953 * Ngày 1-1, thành lập Trường Quốc gia Hành chính.

* Đặt tên đường, địa danh bằng tiếng Việt.

1955 * Chính quyền Ngô Đình Diệm bãi bỏ Hoàng triều Cương thổ.

* Thành lập Uỷ ban Bảo vệ Hoà bình.

* Thành lập các ấp Thái Phiên, Phát Chi.

* Tháng 3, Thành lập Ban Cán sự Đảng Đà Lạt.

* Ngày 1-4, thành lập Nha Địa dư Quốc gia.

1956 Khai giảng Trường Nam Trung học Trần Hưng Đạo.

1957 * Đổi tên trường Quang Trung thành Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân.

* Xây dựng chợ mới Đà Lạt.

* Ngày 15-2, khai mạc Đại hội Lâm Viên.

1958 * Ngày 19-5, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh thành lập tỉnh Tuyên Đức, đô thị Đà Lạt là tỉnh lị tỉnh Tuyên Đức.

* Ngày 15-9, thành lập Thư viện Đà Lạt (nay là Thư viện tỉnh Lâm Đồng).

* Thành lập Viện Đại học Đà Lạt.

* Khánh thành Khu Du lịch thác Prenn.

* Thành lập Giáo hoàng Chủng viện Pio X.

1960 * Thành lập Nha Văn khố.

*  Khởi công xây dựng nhà thờ Cam Ly.

1962 * Khánh thành phi trường Liên Khương.

* Khánh thành chùa Linh Phong.

1963 Khánh thành Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt.

1966 * Thành lập Trường Đại học Chiến tranh Chính trị.

* Thành lập Lực lượng nhân dân, học sinh, sinh viên tranh thủ dân chủ. Nhân dân, học sinh, sinh viên chiếm Đài Phát thanh Đà Lạt và làm chủ một số khu vực.

1967 Thành lập Trường Chỉ huy Tham mưu.

1968 * Ngày 31-1, tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.

* Thị xã Đà Lạt được tặng thưởng Huân chương Thành đồng hạng hai.

1969 * Ngày 23-4, tập kích khách sạn Ngọc Lan, Trường Võ bị Đà Lạt, Trường Chiến tranh Chính trị, sân bay Cam Ly.

* Ngày 7-9, tập kích Trường Cảnh sát Dã chiến và Cảnh sát cơ bản.

1970 * Tháng 4, học sinh, sinh viên biểu tình, bãi khoá .

* Ngày 3-6, Chiến dịch TK : tập kích Trường Võ bị, Chiến tranh Chính trị, Trung tâm Vô tuyến Viễn thông, dinh Tỉnh trưởng, Tiểu đoàn Bảo an, Dinh II, trại Cao Thắng, trận địa pháo Tân Lạc,…

1971 Từ  ngày 28-9 đến 3-10, nhân dân đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, hoà bình,… biểu tình chống bầu cử độc diễn Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn.

1972 Xây dựng đập Đa Thiện III.

1973 Thành lập làng SOS.

1975 * Ngày 3-4, giải phóng Đà Lạt – Tuyên Đức.

* Ngày 4-4, thành lập Uỷ ban quân quản Đà Lạt.

* Ngày 6-4, thành lập Thành uỷ Đà Lạt.

* Ngày 14-4, mít tinh mừng Đà Lạt giải phóng.

Thành phố Đà Lạt được tặng thưởng Huân chương Thành đồng hạng nhất.

* Ngày 27-4, Đài Phát thanh Đà Lạt giải phóng phát bản tin đầu tiên.

* Ngày 15-5, Bản tin Đà Lạt ra số đầu tiên.

* Ngày 20-9, Bộ Chính trị quyết định thị xã Đà Lạt trực thuộc Trung ương.

* Ngày 14-10, Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết định chuyển Học viện Quân sự từ Hà Nội vào Đà Lạt.

* Ngày 20-12, Bộ Chính trị quyết định Đà Lạt trực thuộc Khu VI.

1976 * Ngày 14-3, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra Nghị định hợp nhất tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt thành tỉnh Lâm Đồng mới, Đà Lạt là tỉnh lị tỉnh Lâm Đồng.

* Ngày 26-4, thành lập Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt.

* Ngày 27-10, thành lập Trường Đại học Đà Lạt.

* Đổi tên 22 đường phố.

* Thành lập Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt.

* Thành lập Công ty Dược phẩm Đà Lạt.

1977 * Ngày 26 – 28-8, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ nhất.

* Bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Đà Lạt khóa I.

* Hoàn thành công tác xóa mù chữ trên địa bàn thành phố.

* Thành lập Công ty Dược liệu, Trạm Dược liệu Cam Ly và Trạm Nghiên cứu Dược liệu.

* Ngày 19-8, Báo Lâm Đồng ra số đầu tiên.

* Ngày 2-9, Trạm phát lại truyền hình hoạt động.

1978 * Thành lập Bảo tàng Lâm Đồng, Công ty Phát hành sách Lâm  Đồng.

* Ngày 5-9, thành lập Trung tâm Nghiên cứu Khoa học tại Đà Lạt (nay là Phân viện Sinh học tại Đà Lạt).

* Tháng 11, thành lập Viện Vacxin Đà Lạt.

1979 * Ngày 14-3, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định chia một số huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng, thành phố Đà Lạt có 6 phường và 3 xã: Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trường.

* Ngày 8 – 10-6, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ II.

* Ngày 22-12, khánh thành Nghĩa trang Liệt sĩ.

* Xây dựng hồ Chiến Thắng.

1982 Thành lập Xí nghiệp Liên hiệp Dược Lâm Đồng.

1983 * Ngày 3 – 5-2, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ III.

1984 * Khánh thành Nhà máy nước Suối Vàng.

* Ngày 20-3, khôi phục và mở rộng Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt.

1985 * Nạo vét hồ Xuân Hương.

* Thành lập Trung tâm Bồi dưỡng, Đào tạo tại chức tỉnh Lâm Đồng.

* Ngày 7-11, Đài Truyền hình Lâm Đồng phát hình màu.

1986 * Ngày 6-6, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, phường, thị trấn ở Lâm Đồng, thành phố Đà Lạt có 12 phường và 3 xã : Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trường.

* Ngày 20 – 24-6, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ IV.

1987 Hoàn thành hồ Quang Trung (nay là hồ Tuyền Lâm).

1988 * Ngày 24-12, thành lập Trường Trung học  Dân tộc Nội trú.

* Hồ Xuân Hương được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

1989 * Làng SOS hoạt động lại.

* Ngày 13 – 15-3, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ V.

* Đà Lạt được xác định là một trong các hạt nhân của Tổ chức Du lịch quốc tế (thuộc chương trình VIE 89-003 của OTM).

1990 * Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục bậc tiểu học toàn thành phố.

1991 * Nâng cấp khách sạn Palace, Đồi Cù, các biệt thự đường Trần Hưng Đạo.

* Ngày 16 – 19-10, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ VI.

1992 * Thành lập Công ty Dược – Vật tư Y tế Lâm Đồng.

* Thành lập Công ty Bio-Organics Hasfarm chuyên trồng hoa xuất khẩu.

1993 * Lễ hội kỷ niệm Đà Lạt 100 năm hình thành và phát triển.

* Khánh thành sân golf 18 lỗ.

* Khởi công nâng cấp chợ Đà Lạt.

* Bến xe Trung tâm hoạt động.

1994 * Ngày 27-10, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Đề án Quy hoạch tổng thể xây dựng thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2010.

* Khánh thành Thiền viện Trúc Lâm.

1995 * Nâng cấp đường Hồ Tùng Mậu.

1996 * Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Lâm Đồng hoàn thành Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng thời kỳ 1996-2010.

* Ngày 8 – 10-4, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ VII.

* Ngày 12-8, khánh thành tháp bưu điện.

* Ngày 20-12, thành lập Trung tâm trồng, chế biến cây thuốc Đà Lạt.

1998 * Bộ Văn hoá – Thông tin ra Quyết định xếp hạng 6 thắng cảnh của thành phố Đà Lạt là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia: hồ Than Thở, hồ Tuyền Lâm, Thung lũng Tình Yêu, thác Prenn, thác Datanla, thác Cam Ly.

* Nạo vét và nâng cấp, tôn tạo di tích hồ Xuân Hương.

1999 * Thành phố Đà Lạt được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng ba.

* Ngày 24-7, thành phố Đà Lạt được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là đô thị loại II.

2000 * Thành phố Đà Lạt được Chủ tịch nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước”.

* Tháng 11, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ VIII.

* Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở toàn thành phố.

2001 Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận 2 di sản văn hóa kiến trúc
(ga Đà Lạt và Trường Cao đẳng Sư phạm).

2002 * Khởi công xây dựng công trình Cáp treo Đà Lạt.

* Ngày 27-5, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Đề án Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2020.

* Xây dựng đường Cam Ly – Suối Vàng.

* Khôi phục đường Pren cũ (đường Mimosa).

* Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định đặt tên đường mới.

2003 * Lễ hội kỷ niệm 110 năm Đà Lạt hình thành và phát triển.

* Khánh thành công viên Yersin.

* Khởi công xây dựng công trình cải tạo nâng cấp Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng.

* Khởi công cải tạo suối Cam Ly, xây dựng hệ thống thoát nước thải và nhà máy xử lý nước thải.

2004 * Hoàn thành dự án ngầm hoá đường dây trung thế.

* Nhà máy thuỷ điện Ankroёt lắp đặt 2 tổ máy mới.

* Mở thêm đường hàng không Liên Khương – Hà Nội.

* Thành lập Trường Đại học dân lập Yersin Đà Lạt.

* Lễ hội Sắc hoa Đà Lạt.

2005 * Khởi công xây dựng đường Trường Sơn Đông.

* Thành phố Đà Lạt được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì.

* Tháng 8, hoàn thành cải tạo suối Phan Đình Phùng thuộc Dự án cải thiện vệ sinh, môi  trường thành phố Đà Lạt.

* Từ ngày 19 đến ngày 23-9, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ IX.

* Festival Hoa Đà Lạt lần thứ I.

* Tôn tạo Vườn hoa thành phố.

2006 * Lễ hội văn hóa trà.

* Tuyến xe buýt bắt đầu hoạt động.

2007 * Ngày 27-4, khai thông tỉnh lộ ĐT 723 (Đà Lạt – Nha Trang).

* Festival Hoa Đà Lạt lần thứ II.

2008 * Ngày 29-6, khánh thành đoạn đường cao tốc Liên Khương – Prenn.

* Xây dựng nâng cấp cầu Bà Triệu (Bá Hộ Chúc).

* Khởi công xây dựng nhà máy nước Dankia II.

* Khởi công xây dựng công viên Bà Huyện Thanh Quan.

* Lễ hội kỷ niệm 115 năm Đà Lạt hình thành và phát triển.

 

Hình ảnh triễn lãm Đà Lạt xưa và nay

Từ ngày 17 – 21.12 lễ hội kỷ niệm Đà Lạt 115 năm hình thành và phát triển diễn ra với nhiều hoạt động phong phú. Điểm nhấn của lễ hội là khu triển lãm Đà Lạt xưa và nay . Chộp được vài tấm hình post lên cho bà con xem

Triển lãm chủ yếu chưng bày các hiện vật mà nhân dân Dalat sử dụng qua các thời kì, và hình ảnh về người Đà Lạt xưa :

Toàn cảnh nhà triễn lãm
Click the image to open in full size.

_Một số hình ảnh sinh hoạt của người bản địa Đà Lạt và Nam Tây Nguyên xưa
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.

_Trung tâm Đà Lạt thập kỷ 30 thế kỷ XX
Click the image to open in full size.

_Trường trung học Yersin và hồ Xuân Hương năm 1936
Click the image to open in full size.

_Đàn piano dùng trong nhà thờ Domaine từ những năm 40 của thế kỷ XX
Click the image to open in full size.

_ Súng cối 61 ly của đơn vị 810 dùng trong đợt tấn công và nổi dậy năm 1968
Click the image to open in full size.

_Máy đánh chữ cùng để in truyền đơn từ năm 1966-1969
Click the image to open in full size.

_Máy chụp hình nguồn gốc từ Châu Âu
Click the image to open in full size.

_Lá thư tuyệt mệnh và hạt chuỗi của Đặng Ngọc Tuyền – HSSV Đà Lạt người đã tự thiêu ngày 23/6/1966 tại chùa Linh Sơn
Click the image to open in full size.

Một vài hình ành Dalat xưa!



Khách Sạn DALAT PALACE

Hồ Xuân hương!


[Thác DATANLA

Biệt Thự cổ

Nhiều người Pháp ở Đà lạt


Người Đà Lạt
——–
Đà lạt Ngày nay


Đà Lạt trong sương


Đêm Đà lạt


Dạo bằng xe đạp!!!


Ga Đà Lạt đẹp nhất Đông Dương

Nhà thờ Con gà

Công viên hoa Đà lạt với cổng hoa cao nhất VN

Ngoài ra còn có các gian hàng giới thiệu sãn phẩm như , rượu vang, trà, tranh thêu….và khu vui chơi phục vụ thiếu nhi
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size.
Click the image to open in full size. 

Và đặc biệt có hát karaoke free và có thưởng nừa từ 94-97 điểm thưởng 1 áo thun, 98-100 thưởng ba lô.
SWL củng bon chen quất 1 bài, hix ko biết có cha nào edit cái máy không nửa được có 70 đ quê quá về luôn không tham quan nửa.
Click the image to open in full size.

__________________

Trên Quê Hương người Lạch- Đà Lạt( Lâm Đồng)

CAO NGUYÊN LANG BI-AN

chân trời hướng Bắc, dãy núi Lang Bi-an sừng sững hiện ra, tạo hậu cảnh cho thành phố Đà Lạt với hai đỉnh núi cao 2.167m và 2.154m. Dưới chân núi là xã Lát và huyện lỵ huyện Lạc Dương.

Năm 1899, bác sĩ Étienne Tardif (Ê-chiên-nơ Tạc-đíp) đã leo lên dãy núi Lang Bi-an và viết về cao nguyên Lang Bi-an:

“Cao nguyên Lang Bi-an là mt vùng rng ln tri ra xung quanh giao đim ca 106o kinh Đông và 12o vĩ Bc, có hình dáng mt hình en-líp mà đường trc ln Bc – Nam dài 18km và đường trc nh Đông – Tây dài t 10 đến 12km.

Đ cao thay đi t 1.300 đến 1.550 và 1.600m.

Đnh núi cao nht ca dãy Lang Bi-an án ng cao nguyên Lang Bi-an v hướng Bc. V các hướng khác, nhng chm núi dài và cao bao bc cao nguyên Lang Bi-an.

Khi nhìn thy cao nguyên Lang Bi-an, điu đp mnh vào mt tôi trước tiên là đa hình. C mt vùng rng ln gm nhiu ngn đi nm k bên nhau, ni tiếp nhau, chế ng ln nhau, sườn đi này dc thng đng, sườn đi kia nm thoai thoi trên mt đt. Nhng thung lũng rng và sâu nhiu hay ít chia ct núi đi dn sóng, len vào gia là con đường ni lin Đăng Kia (Dankir, Dankia) vi Đà Lt.

C vùng đi núi này đu ph mt lp c ngn vào mùa khô, cao và dày vào mùa mưa.

Trong thung lũng mc nhiu loài thc vt khác nhau, lau sy và trên vài sườn đi có nhng đám thông và tùng.

Dòng nước chy theo nhiu li, có khi là nhng dòng sui nước chy xiết, có khi là nhng ao h sâu n mình dưới mt lp tho mc rm rp.

Hình dáng mp mô ca cao nguyên tht là l lùng! Tôi leo lên mt trong năm đnh núi. Mt cnh quan kỳ diu hin ra trước mt tôi. 150 đi núi xanh rn ging như mt thúng cam khng l.

… Tôi nhn thy gió trên cao nguyên thi vào tháng 6 t Bc sang Đông và thi d di t Đông sang Tây vào tháng 11, trong mùa lnh.

Cui cùng, không th nào quên mt nét đp tht mê hn trên cao nguyên bao la này: Ăn Krô-ét (Ankroët) vi rng thông mênh mông và thác nước kỳ l cao 15m, nước tuôn xi x. Rt tiếc, v trí nơi đây quá hp không cho phép xây dng nhng công trình quan trng.

Theo các nhà địa chất, núi Lang Bi-an hình thành do vận động tạo sơn nhưng theo truyền thuyết của người Lạch (Lat, Lạt, Làc, M’ Lates,…) và người Srê (Xrê, Sré), núi Lang Bi-an do một con heo rừng tạo nên. Truyện cổ kể rằng:

Khởi thủy có địa ngục (Bờ-r Ting, Brating hay Brah Ting). Ở địa ngục, K’Bùng tạo ra tất cả: đất, đá, động vật, con người, những nhân vật đầu tiên được tôn là thần thánh.

Thế rồi K’Bùng và những nhân vật do K’Bùng tạo nên đi ra khỏi địa ngục để làm nên trời và đất.

K’Bùng lấy một cái búa nhỏ rèn thành trái đất, lấy một cái búa ngắn rèn thành trời. Trời đất cưới nhau sinh ra con đàn cháu đống về sau.

K’Bùng lấy từ địa ngục lên một trái bầu đựng đất màu mỡ và bảy gùi lớn đựng đất khô khan, đất màu mỡ cho lúa, đất khô khan chỉ là đất. K’Bùng và cộng sự không những tạo ra mặt trời, trăng, sao mà còn làm ra lục lạc cho ngựa, chuông cho trâu,…

K’Bùng tạo ra con kiến, con rắn, con chim sẻ trắng. K’Bùng cột một sợi chỉ vào chân con chim rồi cho bay đi khắp nơi để đánh dấu đất. Chim dừng lại trên một ngọn núi K’Bùng muốn tạo ra. K’Bùng đánh dấu nơi này và tạo ra đỉnh núi Lang Bi-an. K’Bùng tạo ra con heo rừng giúp K’Bùng đắp đất. Heo rừng dùng mõm ủi đất nhiều và khéo đến nỗi Lang Bi-an trở thành một ngọn núi lớn. K’Bùng tạo nên người khổng lồ ép đất núi tạo ra thác và rắn nước.

K’Bùng mang từ địa ngục một gùi nhỏ đựng hạt chuối rừng, một gùi có nắp đựng hạt tre, một gùi có quai đựng hạt cỏ tranh. Ông cũng mang cả hạt của cây mây, cây dứa, các loài thực vật khác.

K’Bùng tạo ra con nai. Trở về mặt đất, ông mang đất sét đỏ tạo ra những con chim sẻ, con ó từ đất đá, con cọp từ bùn lầy, con heo từ lúa khô, con thỏ từ lúa đông lạnh.

K’Bùng tạo ra tất cả, tạo cả con người (K’Bung mon jo’h, mon chau sól).

Ngày xưa, cây tre không có mắt và chân tay con người chỉ là một khối cứng đơ, không cử động được, không khom lưng được. Con của K’Bùng rất mạnh đã điều chỉnh lại chân tay giúp con người đi lại được. [30, 21 – 22]

Người Chin (Chil, Cil, Cill) cũng có một truyền thuyết về công trình đắp núi Lang Bi-an và nguồn gốc của các dân tộc ở Việt Nam:

Thuở xưa, hai vị thần N’Thup -Thưr và Lãn Dữn đã rèn nên trái đất và dùng phép mầu tạo ra mặt trời, mặt trăng cùng những ngôi sao soi sáng trái đất cả ngày  đêm.

Lúc đầu trái đất còn mềm, sau khô cứng thành đất và đá. Ông bà N’Thup – Thưr và Lãn Dữn lấy đất nặn ra một người đàn ông và một người đàn bà, đặt tên là Ha Nghê và K’Nghe để cai quản trái đất. Hai người này kết duyên với nhau, sinh được một đôi trai gái, con trai đặt tên là Ha Đỏ, con gái tên là K’Dong. Lớn lên, hai người lấy nhau và sinh rất nhiều con cháu.

Ban đầu, tổ tiên loài người chưa biết làm nhà và sống trong hang đá. Cây cỏ, đất cát, nước nôi chưa xuất hiện, họ sống bằng một thứ thuốc đặc biệt và uống nước của con vẹt.

Một hôm, nghe thấy có những tiếng động lạ dưới một hòn đá, họ hè nhau lăn hòn đá sang một bên. Một con cua từ dưới hòn đá bò lên, theo sau là một dòng nước trong suốt chảy ra. Sau đó có rất nhiều vật lạ như lươn, cá, tôm,… cùng theo dòng nước bơi ra. Dòng nước ấy chảy suốt ngày đêm, năm này sang năm khác, không bao giờ ngừng. Nước chảy đến đâu đều xoi mòn đá tạo nên đất cát, đồng bằng và sông ngòi, hồ ao, biển cả. Từ ấy có mưa, cây cối mọc lên xanh tốt và muôn loài khác tự nhiên sinh ra.

Loài người rất sung sướng, họp nhau ca hát, nhảy múa bên dòng nước lạ. Về sau, họ biết trồng tỉa để có lương thực và biết nuôi súc vật để cúng tế thần linh.

Thời gian sau, loài người quá đông đúc, đất đai trồng tỉa không còn đủ nuôi sống tất cả, họ phải phân tán đi kiếm các vùng đất mới. Trước khi chia tay đi bốn phương trời, họ họp bàn cùng nhau làm một cái gì thật cao để con cháu dù đi xa đến đâu cũng trông thấy và có thể tìm đường về quê hương cũ. Mọi người đồng ý bắt chước loài mối tha đất đắp ụ để đắp một quả núi thật cao. Công trình đắp núi vô cùng vất vả, đất mềm càng lên cao càng bị lở, họ phải làm giàn giữ đất và đặt ra tục lệ mỗi khi người con gái đi lấy chồng phải nộp cho nhà trai một số chiêng. Chiêng này úp vào quả núi cho thêm vững chắc. Đắp núi xong, họ đặt tên là  Lang Bi-an rồi phiêu bạt khắp bốn phương trời.

Trong số những gia đình phân tán đi các nơi có sáu chị em gia đình nọ tên là K’Grup, K’Grum, K’Grăm, K’Grô, K’Pac, K’Nghê – K’Nga. Con cháu cô K’Grup sinh ra người Chăm, con cháu cô K’Grum sinh ra người Chu-ru, con cháu cô K’Grăm sinh ra người Chin, con cháu cô K’Grô sinh ra người Cơ-ho, con cháu cô K’Pac sinh ra người Mạ, còn con cháu cô K’Nghê – K’Nga đi xuống đồng bằng sinh ra người Kinh. Vì vậy, người Chăm, người Chu-ru, người Chin, người Mạ, người Cơ-ho và người Kinh đều là anh em.

Về ý nghĩa địa danh Lang Bi-an, truyện cổ của người Chin cho biết về sự tích K’ Lang và Ha Biang, núi Voi và sông Đa Nhim:

Ngày xưa, ở buôn Kon Đố (xã Đưng K’ Nớ, huyện Lạc Dương) có một đôi vợ chồng: người chồng tên là Ha Biang, người vợ tên là K’ Lang.

Một năm nọ, toàn vùng bị hạn hán, Ha Biang lên đường đi kiện trời, nhưng khi đến núi Găng-reo ở huyện Đức Trọng hiện nay thì bị chết đói.

K’ Lang lần theo vết của cây con do Ha Biang đã bẻ đi tìm chồng. Nhìn thấy xác chồng, K’ Lang khóc lóc thảm thiết, vang xa khắp “tám núi, tám sông, tám rừng, tám suối” và bay đến tận trời.

Trời liền sai thần mưa trút nước xuống trần gian nhưng K’ Lang vẫn tiếp tục khóc cho đến chết. Tiếng khóc của K’ Lang làm xúc động con voi đầu đàn. Nó đến che mưa cho K’ Lang và Ha Biang, đứng khóc rồi chết theo Ha Biang và K’ Lang.

Nước mưa hoà cùng nước mắt của K’ Lang và con voi chảy thành sông gọi là sông Đa Nhim (da: nước;nhim: khóc). Các già làng đặt tên cho ngọn núi ở Kon Đố là Lang Biang và núi Găng-reo là núi Voi.

Người Lạch cũng có một truyện cổ về sự thành lập núi Lang Bi-an :

Ngày xưa, đất trên cao nguyên và vùng đồng bằng đều bằng phẳng, chưa có núi cao như bây giờ. Khi mùa lũ đến, nước biển và nước sông tràn ngập cả đất đai, cây xanh không mọc, đất đai bạc màu. Thần Nđu thấy vậy đã làm phép nâng đất cao thành cao nguyên. Nước biển vẫn tràn lên, thần Nđu liền tạo ra nhiều ngọn núi cao thấp nằm gần nhau làm bờ ngăn cản nước, trong đó có hai ngọn núi Lang Bi-an. Ngăn chặn được nước sông và nước biển, cây cỏ xanh tươi, đất đai màu mỡ, thần Nđu giao cho thần rừng tạo ra loài vật để cho cuộc sống thêm vui. [6, 89]

NGƯỜI LCH

Từ xa xưa, trên cao nguyên Lang Bi-an có hai tộc người Chin và Lạch cùng sinh sống, nhưng đông nhất là người Lạch.

Chin còn gọi là cau n’ho (cau: người; n’ho: ngo, thông) có tập quán du canh, du cư, phát rừng, làm rẫy (sa bri: ăn rừng).

Lạch có nghĩa là đồi cỏ:

Jùn ntúat bơh brê làc tus brê dơr

(Con nai chạy từ đồi cỏ vào trong rừng thưa).

Một số tư liệu dịch Lạch là rừng thưa (clairière) hay trảng cỏ (clairière herbacée).

Người Chăm gọi người Lạch, Chin, Srê là Cơ-ho (Cơ Ho, Kơho, K’ Ho) có nghĩa là người miền núi.

Người Lạch sử dụng ngôn ngữ Môn – Khơ-me như người Ba-na, Stiêng, M’ Nông và một số dân tộc ít người khác trên Tây Nguyên.

Gốc người Lạch có các họ: Cil (Chil), Krajan (Krazanh), Liêng Hot, Rơông, Pangting, Dagốt (Dagout), Mebla, Bonding (Bòn Đing), Bonyộ (Bòn Yộ), Lơmbiêng,… Riêng họ Cil còn chia nhiều nhánh: Cil Mup, Cil Damjong,…

Người Lạch có một số họ như người Chin: Cil, Krajan, Liêng Hot, Rơông; riêng họ Cil của người Chin có Cil Pam, Cil Yú,…

Tuy nhiên, người Lạch có các họ mà người Chin không có:  Dagout, Pangting, Rơglê, Mebla, Bonyộ, Bonding.

Ngược lại, có các họ chỉ có trong người Chin, người Lạch không có: Bondưng, Dơnggur, Konsa, Konsơ, Sơao, Sơnơr, Lơmu, Mbon, Bontô, Ntôl, Klong,…

K’ không phải là họ nhưng là một từ đặt trước tên của một nhân vật, có nghĩa như ông, bà, anh, chị trong tiếng Kinh. Ví dụ: K’ Mlơi có nghĩa là ông Mlơi.

Người Chin dùng từ K’ để phân biệt phái: K’ dùng để gọi phái nữ, Ha dùng để gọi phái nam. Người Lạch, người Srê dùng chung từ K’ cho cả nam lẫn nữ. [3, 165]

Trước năm 1954, người Lạch sinh sống trong 7 buôn: Bon Nơr, Bon Đêng (Bon Đing), Bon Dơng, Hàng Kròc (Rơhàng Kròc), Mang Ling và hai buôn Đang Ja. Năm 1954, thung lũng sông Đạ Đờng (Dạ Dờng, Da Deung, Đa Dâng) bị ngập lụt, Bon Dơng và một buôn Đang Ja được tập trung vào một địa điểm mới, trong khi đó vài gia đình chuyển sang Dơng Kriêng, Dà Mpào, Nrèng hay Pơnơr ở các huyện Đức Trọng và Lâm Hà ngày nay. [35, 3]

Hiện nay, người Lạch sống tập trung tại xã Lát (huyện Lạc Dương). Năm 1989, xã Lát có 395 hộ với 4.915 người Lạch. Xã Tà Nung (thành phố Đà Lạt) có khoảng trên 300 người Lạch.

Ngày xưa, đa số người Lạch sống trên vùng đất thấp, màu mỡ, trong các buôn có nhiều nhà dài với nhiều gia đình cùng chung sống.

Buôn làng ít khi có hơn 20 nhà, mỗi nhà có 3 hay 4 hộ. Có hai loại nhà: nhà đắp đất và nhà dài 20 – 25m, cất trên cột cao 2m, không có cửa sổ và ống khói. Dưới sàn nhà, họ nuôi trâu, heo, gà,… Ngựa được nhốt trong chuồng giống như chiếc hộp khép kín để tránh cọp thỉnh thoảng đi kiếm mồi.

Mái nhà lợp một lớp tranh dày. Trên trần nhà, người Lạch cất thóc, bắp, dây mây, thịt trâu, heo, nai xông khói. Hạt giống được cất giữ trong những chiếc giỏ bằng mây.

Buôn làng là đơn vị hành chính quan trọng nhất. Người có quyền lực cao nhất trong buôn là trưởng buôn hay chủ làng (kuang bon) được chọn không phải do thể lực nhưng do sự hiểu biết về phong tục, tập quán và luật lệ. Ngoài ra còn có một hội đồng già làng gồm chủ nhà (pô hiu) và tộc trưởng (kumy). Hội đồng họp với sự tham gia của trưởng buôn để giải quyết những trường hợp nghiêm trọng. Vì lợi ích chung, nhiều buôn có thể hợp tác với nhau và chọn người đứng đầu liên minh (roklong).

Luật tục (nri) là những câu thơ ca truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong luật tục của người Lạch không có án tù và tử hình. Người Lạch tin rằng khi con người phạm lỗi là không hoà đồng với thiên nhiên và động đến thần linh. Để không bị thần linh nổi giận trừng phạt, người phạm lỗi phải hiến sinh và nộp phạt. [70, 389, 395, 415 – 416]

Người Lạch có thân hình cân đối, nước da ngăm đen, tóc dài, mắt tinh. Họ luôn nhìn thẳng và hay cười. Họ cà răng, không dùng đũa nhưng ăn bốc và hay hút thuốc lá trong ống điếu.

Lỗ tai người phụ nữ đeo vòng bằng ngà voi hay thiếc lớn dần theo năm tháng, có khi nặng đến 500 gam. Cổ tay và cổ chân đeo vòng phát ra tiếng động khi bước đi. Đây là dấu hiệu của sự giàu sang.

Trẻ em đeo kiềng và vòng với những chiếc lục lạc.

Đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy làm bằng một mảnh vải quấn ngang thắt lưng.

Người Lạch rất trung thực, chất phác, giữ lời hứa, dũng cảm và hiếu khách.

“Jơi gloh cô tm, hm cô năc

(Chủ đói để cho khách no).

Khi khách đến làng, họ mang chuối, cơm, gà, trứng,… đãi khách. Trưởng buôn đem ra một ché rượu, cắm một chiếc cần và mời khách uống. Chiếc cần được chuyền cho người này đến người khác. Trưởng buôn đôi lúc đổ thêm nước vào ché rượu, rượu ngày càng nhạt dần.

Họ rất ân hận khi không tiếp khách được chu đáo:

Trôêh  kòn prôm bl b te làng

Trôêh kòn prôm bl bàng te lă

Iêr kuang kră te bôh

Rơpu kuang yôh te pơnt

(Khách đến nhà chiếu trải không đủ

Khách đến nhà không có chiếu quý để trải

Khách đến nhà không có gà trống để nướng

Không có trâu đực để làm thịt mời khách).

Tuy y học còn thô sơ nhưng người Lạch biết sử dụng cây thuốc để chữa bệnh. Trong một số trường hợp, họ phải cúng bái. Người phụ trách cúng bái là thầy cúng (gru) nam hay nữ phục vụ cho nhiều buôn. Thông qua các vị thần linh, thầy cúng xác định bệnh tình, cho biết tên thần linh gây bệnh và lễ vật phải cúng tế.

Cuối thế kỷ XIX, bác sĩ Étienne Tardif đã được dân làng mời đến thăm một người dân bị bệnh nặng ở Bon Dơng (Bandone) gần Đăng Gia trên cao nguyên Lang Bi-an kể lại:

“Khi đến nhà, tôi thy trên chòi đu và chân mt con trâu va mi b giết. Người ta cho tôi biết đây là con trâu th ba cúng thn linh t khi bnh bt đu. Vào trong nhà, khói la cúng thn linh xông lên khó chu. Quanh ngn la, dân làng ăn và ung rượu. Thnh thong, mt người kéo mt si dây ct vào mái nhà làm cho nhng chiếc bùa và lc lc vang lên. Cùng lúc trng chiêng đánh lên và người trong nhà la hét đ xua đui ma qu đang nhp vào xác người bnh. Bnh nhân b st rét nng nm cnh đng la.

Khi mt người trong làng chết trong mt thi gian ngn do mt căn bnh không rõ, dân làng di buôn sang nơi khác.” [50, 107 – 124]

Trong xã hội người Lạch, người phụ nữ sở hữu và thừa hưởng tài sản, đề khởi hôn lễ và truyền tên dòng họ gia đình cho con cái. Nam giới lo việc cày bừa, trồng trọt, thu hoạch, săn bắn, bắt cá và đan lát; người phụ nữ nấu cơm, chế biến rượu, dệt thổ cẩm và chăm sóc con cái. Vào mùa đông, săn bắn và bắt cá chiếm phần lớn thời gian của nam giới; vào mùa xuân và mùa hè, hoạt động chính là nông nghiệp.

Một ngày trong buôn diễn ra như sau:

Từ sáng sớm, người vợ thức dậy nấu cơm và dở cơm trưa.

Sau bữa ăn sáng, hai vợ chồng người nào việc nấy tùy theo mùa và ngày trong tháng.

Đến tối, người chồng trở về nhà, người vợ lại chuẩn bị cơm nước.

Sau bữa ăn tối, dân làng ca hát, kể chuyện cổ tích và trò chuyện đến khuya.

Thỉnh thoảng, các lễ hội, ma chay, hôn lễ làm thay đổi cuộc sống thường ngày.

Cũng như các tộc người Cơ-ho khác, người Lạch theo chế độ mẫu hệ, một vợ, một chồng. Họ cũng được phép đa thê nhưng rất hiếm, chỉ xảy ra trong các gia đình giàu có hay trưởng buôn. Hôn nhân giữa các thành viên trong cùng một dòng họ bị coi  là loạn luân và cấm triệt để.

Người phụ nữ kén chồng (kup bao: bắt chồng) trong những người cùng buôn hay buôn lân cận. Một thầy cúng đứng ra chủ lễ thành hôn, cầu nguyện thần linh gia hộ cho đôi lứa. Trong trường hợp không có thầy cúng thì mẹ của cô dâu chủ lễ. Gia đình cô dâu giết trâu, heo, gà và lấy máu động vật hiến sinh trộn với rượu bôi vào chân cô dâu, chú rể.

Sau đó, chú rể ở lại lao động trong nhà cô dâu, chịu sự lãnh đạo của người lớn tuổi nhất trong gia đình nhà vợ. Nếu người vợ chết, người chồng có thể trở về nhà cha mẹ nhưng con cái ở lại nhà mẹ.

Sự gian dâm là một trọng tội và bị phạt rất nặng. Kẻ có tội phải nộp phạt cho gia đình, trưởng buôn, già làng và giết sinh vật để tạ tội với thần linh.

Người Lạch cũng được phép ly dị nhưng phải có lý do và được trưởng buôn, già làng cho phép. Nếu vợ hay chồng bị tố cáo là tà dâm, bất lực, lười biếng hay mâu thuẫn không giải quyết được thì hai họ họp lại bàn bạc với sự tham dự của chức sắc trong buôn. Người chồng không được cưới vợ lẽ nếu không được phép của người vợ cả. Người vợ lẽ bị đối xử như người ở và người chồng phải ở trong gia đình người vợ cả.

Nếu vợ hay chồng trốn nhà ra đi, cha mẹ vợ hay chồng phải nộp phạt một con trâu.

Khi bà mẹ chuyển bụng, người cha mời bà đỡ (m boai) đến giúp và ở lại trong nhà ba ngày sau khi đứa bé ra đời. Người cha cúng một con gà, một ché rượu và trả cho bà mụ một cái kiềng, một vòng bạc và một chiếc chăn.

Nếu bà mẹ đẻ khó, một bà đỡ thứ hai được mời đến.

Nếu bà mẹ vẫn chưa đẻ được, người cha mời bà đỡ thứ ba (m boai giac). Bà đỡ này có nhiều kinh nghiệm nhưng rất hiếm, 5 hay 6 buôn mới có một người.

Trong trường hợp đẻ khó, gia đình phải cúng heo, dê, trâu và rượu.

Đại gia đình người Lạch rất thương yêu, chăm sóc trẻ em, không bao giờ bỏ rơi trẻ em. Trẻ mồ côi được gia đình bên mẹ nuôi nấng, thỉnh thoảng người hàng xóm nuôi, dạy dỗ và đối xử như con ruột.

Trẻ em rất được quý mến; con gái được chuộng hơn con trai vì nhờ con gái về sau sẽ có thêm chàng rể, tăng thêm người lao động trong gia đình.

Trẻ em được giáo dục về sự đối xử với cha mẹ, các thành viên trong gia đình và phong tục buôn làng, chuẩn bị cho các em trở thành người lớn. Con trai được dạy về nghề nông, săn bắn, bắt cá, trong khi con gái học những công việc hằng ngày của người phụ nữ: nấu ăn, dệt thổ cẩm và chăm sóc các em nhỏ.

Người con gái út ở lại trong gia đình để chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già. Tuy nhiên, nếu người chị cả sống với cha mẹ, người con gái út có thể rời khỏi gia đình. Nếu người chị cả mất trước khi cha mẹ từ trần, người con gái út phải trở về chăm sóc cha mẹ. Con cái không bao giờ không phụng dưỡng cha mẹ.

Người Lạch chia trường hợp chết thành hai loại: chết tự nhiên và chết vì tai ương (tai nạn, bất đắc kỳ tử hay khi lọt lòng mẹ) do thần linh gây ra. Như các tộc người khác trên Tây Nguyên, người Lạch sợ phải chết xa buôn làng.

Người chết được tắm rửa và mặc y phục đẹp nhất. Nếu chết vào buổi tối, một con trâu, một con heo và một con gà được hiến tế. Nếu chết vào sáng sớm, lễ hiến tế được tổ chức ngay. Nếu chết vào ban ngày, lễ hiến tế được tổ chức vào lúc hoàng hôn.

Trong dịp ma chay, bạn bè và người thân của người chết đến viếng thăm, mang theo trâu, heo, gà và những ché rượu để dân làng cùng hưởng. Người lớn uống rượu trước, sau đó đến thanh niên và cuối cùng là phụ nữ.

Lễ an táng được cử hành vào ngày thứ ba hay thứ tư sau ngày chết. Các ché rượu, ly chén được đập vỡ, bỏ vào một cái giỏ cùng với lễ vật và đặt gần mộ. Thân nhân người chết cũng đặt lên mộ một con gà, không giết gà nhưng để cho nó chết dần. Thân nhân tiếp tục mang thức ăn đến cho người chết trong vòng một năm, sau đó mới bỏ mả. Một số gia đình dựng nhà mồ trên mộ người thân.

Vợ chồng phải chịu tang trong một năm. Người chồng có thể cưới vợ khác sau thời kỳ chịu tang nếu gia đình vợ đồng ý hay người chồng lấy em gái vợ.

Tài sản được chia cho nữ giới. Trong gia đình có ba người con gái thì người chị cả được hưởng 3/10 gia tài, người thứ hai 2/10 và cô gái út được nửa gia tài vì cô gái út chịu trách nhiệm trả tổn phí lễ tang và giữ gìn mồ mả. Nếu ba chị em cùng ở trong một nhà thì cùng chịu trách nhiệm về lễ tang, sự kế thừa và các khoản chi tiêu trong gia đình được phân chia đồng đều.

*

Từ xa xưa, người Lạch chọn khu rừng rồi hạ cây, phát rẫy (mir) và đến cuối mùa khô họ đốt rẫy.

Trên mặt đất còn nóng và đầy tro, họ nhanh chóng gieo hạt bắp, lúa rẫy, bí, bầu, đậu,…. Người đàn ông đi trước, tay cầm một hay hai cây gậy có đầu nhọn chọc xuống đất với khoảng cách đều nhau. Người phụ nữ đi theo sau, tra hạt vào lỗ.

Sau 1, 2, 3 hay 4 năm, tuỳ theo tình trạng cạn kiệt của đất, người Lạch bỏ rẫy đi phát tiếp một khu rừng khác. Nếu đất tốt, cây rừng mọc lại thì 15 hay 20 năm sau, họ trở về tiếp tục phát rẫy. Nạn đốt rừng đã khiến cho nhiều khu rừng trở thành những ngọn đồi trơ trụi.

Về sau, người Lạch học được từ người Chu-ru kỹ thuật trồng lúa nước. Trong các thung lũng, dọc các dòng suối, họ cày bừa, sạ lúa và đào mương dẫn nước vào ruộng. Họ biết tận dụng sức nước và gió để chế tạo những công cụ xua đuổi thú rừng phá hoại mùa màng.

Người Lạch nuôi heo, gà, trâu, ngựa,… Con trâu là động vật linh thiêng nhất dùng trong tế lễ. Đối với thần linh, con trâu hiến tế thay mặt cho con người. Sau khi cúng tế, thịt trâu được chia cho thân nhân trong gia đình và dân làng như một hình thức đoàn kết trong cộng đồng. Heo, gà cũng được dùng trong cúng tế nhưng giá trị kém hơn trâu.

Người Lạch nuôi heo và đem xuống vùng đồng bằng để đổi muối. Cao nguyên Lang Bi-an hoàn toàn thiếu muối và món quà họ ưa thích nhất là muối. [70, 399 – 405]

Nuôi ngựa là một đặc điểm độc đáo của người Lạch. Ngựa không những là phương tiện đi lại, chuyên chở thích hợp ở vùng đồi núi nhấp nhô mà còn là hàng hoá để buôn bán với các cư dân khác trong vùng. [13, 183]

Người Lạch đan chiếu, trang trí vải dệt thổ cẩm, đồ dùng (con dao, hộp đựng thuốc lá, ống điếu,…), đồ trang sức (vòng bạc,…) với những nét thẳng, hình thoi, ô vuông, chữ chi,…hoa văn đa dạng trình bày hình ảnh mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, vảy đồi mồi, cối giã gạo, mỏ chim, bó tranh lợp nhà, cánh con ruồi, răng con trâu, con dế,… [27, 1.072 – 1.074]

Vào mùa khô, khi công việc nhà nông tạm dừng, người Lạch tổ chức thành từng đoàn đi xuống vùng đồng bằng Phan Rang, Nha Trang để trao đổi hàng hoá. Họ đổi da thú vật, heo,…lấy vải, muối, sắt, ché, chiêng,… Những chuyến đi xuống vùng duyên hải kéo dài vài tuần.

Chân đạp đất, lưng nặng trĩu hàng hoá, họ leo đồi, tuột dốc, đi ngang qua những khu rừng và chống chọi với thú dữ bằng dáo, mác và cung tên.

Thác ghềnh, sông rộng không ngăn chặn được bước chân của họ. Họ chọn những khúc sông suối cạn để vượt qua. Gặp những khúc sông suối sâu, họ kết bè hay dùng thuyền độc mộc. Họ cũng biết dùng phà cột với sợi dây mây dài hơn trăm mét. Đôi khi họ hạ cây cao bắc cầu qua suối.

Tài sản quý giá nhất là con trâu (rpu) dùng để cày bừa hay tế thần. Kế đến là ché (drap) và chiêng (cing).

Ché được xếp thành hàng dọc theo tường hay treo trên trần nhà. Các chiếc ché cổ giá rất cao, đổi được nhiều con trâu. Ché được xem là vật thiêng, vị thần hộ mạng. Nhiều lễ hội được tổ chức trong và sau khi mua bán ché, cũng như nhập ché vào nhà.

Giá trị của chiêng thay đổi tuỳ kích thước, hình dáng và nhất là nguồn gốc, tuổi tác, âm thanh. Giá trị hàng hoá được tính theo lưỡi cuốc, lưỡi rìu, chiều dài của sừng trâu, vòng ngực của con heo, thùng lúa, bắp, chăn, nồi niêu, ché, chiêng, đồ trang sức,…

*

Người Lạch tin vào thần linh. Vị thần cao nhất là Nđu. Truyện cổ kể rằng Nđu ăn cắp một hạt lúa từ địa ngục đem lên cho loài người nhưng lúa lại trở về tảng đá, nơi ngự trị của Mẹ Lúa (Me Kuê). Nđu mời Mẹ Lúa cùng đi nhưng bị chặn lối, Mẹ Lúa không lên được. Nđu ra lệnh cho con kiến đào đất để ăn cắp hạt lúa nằm dưới tảng đá. Bảy con kiến làm việc và mang được các giống lúa lên mặt đất. Sau đó, heo, vịt, gà, dê, trâu, rượu cũng lần lượt lên mặt đất. Nđu và Mẹ Lúa dạy con người biết trồng lúa và ăn cơm với thịt nai, heo, trâu, gà, cá.

Dưới thần Nđu có thần mặt trời (Yàng Tơngê), mặt trăng (Yàng Konghai), mặt đất (Yàng Tiêh), bu tri (Yàng Tr) và sm sét (Yàng Dong Rong, Yàng Tơrnàih). Vô s thn linh ngự trị trong thiên nhiên: các ngọn núi, khu rừng, dòng suối, tảng đá, động vật như con cọp, các đồ vật trong buôn hay trong nhà: cổng buôn, dụng cụ, ché rượu,…

Ngoài các vị thần (Yàng) còn có ma quỷ (c, ca) gây ra tai nạn, bệnh tật và chết chóc.

Hai vị thần quan trọng nhất là thần núi và thần nước. Thần cây cối giàu lòng từ thiện chịu trách nhiệm về lúa, bông vải và các vật liệu xây dựng.

Thần lúa (Yàng Kuê) giữ một vị trí đặc biệt vì là vị thần nuôi dưỡng con người. Thần lúa thường liên kết với thần đất (Kuê – Ú). Thần đất cũng được nhân cách hoá và sánh với người mẹ nên người Lạch thường gọi Mẹ Đất (Me Ú).

Trong lời khấn đọc bằng tiếng Chu-ru trong lễ nghi nông nghiệp còn nhắc đến thần Alăc -Alăn

“…to ra đt, tri, con người và muôn vt

to ra ln nái, thóc lúa

to ra ché nh

to ra ché ln

to ra con bò

to ra con trâu

to ra chiêng ln và con trâu nh

to ra chiêng ln và con trâu tơ.

Người Lạch kiêng nhắc đến tên cúng cơm của cha mẹ, không nói khát nước vì sẽ không có nước để uống, không nói ruộng lúa tốt vì sẽ bị mất mùa, không được phá tổ kiến.

Trong một số trường hợp, nhà cửa cũng bị kiêng cữ, không cho người ngoài vào nhà trong 7 ngày sau khi nhà có người sinh nở, 3 hay 7 ngày sau khi cúng tế và một thời gian ngắn khi người bệnh uống thuốc. Kho thóc cũng bị cấm, người ngoài không được vào.

Mỗi buôn có một khu rừng thiêng (Yàng Bri) – nơi ngự trị của thần linh. Dân làng không được chặt cây vì thần linh sẽ trả thù bằng cách gây dịch bệnh, ốm đau hay chết.

Người Lạch tin có ngày tốt, ngày xấu. Ngày lẻ là ngày tốt, ngày chẵn là ngày xấu. Tre phải chặt trong ngày lẻ. Thời gian tốt nhất để gieo mạ là ngày thứ nhất hay ngày thứ ba của tuần trăng thượng huyền hay các ngày thứ 1, 3, 5, 7, 9 của tuần trăng hạ huyền. Những chuyến đi buôn cũng phải khởi hành vào ngày lẻ. Vào những ngày lẻ, nếu đi câu hay bắt cá, săn bắn sẽ thu được kết quả tốt hơn. Vào ngày cuối cùng của tháng âm lịch, không được ra đồng làm việc.

Tháng cũng có tháng tốt, tháng xấu. Tháng 5 là tháng tốt nhất để gieo trồng và tháng 8 là tháng xấu nhất trong nghề nông.

Người Lạch cũng hay đoán mộng:

Nếu nằm ngủ mơ thấy uống rượu có nghĩa là ngày mai trời sẽ mưa;

mơ thấy người chết : mất mùa;

bắt gà : ngày mai sẽ bắt được nhiều cá;

con trâu chết, nai bị giết : trong làng sẽ có người chết.

Một số giấc mơ có ý nghĩa trái ngược: nếu mơ thấy giàu sẽ nghèo, nếu mơ thấy mạnh khoẻ sẽ mắc bệnh. [27, 1.191 – 1.193]

*

Lễ hội có liên quan đến chu kỳ nông nghiệp và đời sống cư dân. Lễ hội quan trọng nhất là lễ đón năm mới (lir bong). Thời gian tổ chức lễ hội thay đổi từ buôn này đến buôn khác, nhưng thường vào mùa xuân, từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5, kéo dài từ 4 đến 5 ngày.

Buổi sáng ngày đầu tiên, dân làng uống rượu rồi đâm trâu. Số lượng trâu là 3, 4 hay 5 con tuỳ theo buôn giàu hay nghèo. Đầu trâu và 4 chân được đặt trên chòi để cúng thần linh. Sau khi cạo lông trâu, dân làng xẻ thân trâu ra thành nhiều miếng và nướng trên đống lửa.

Lễ hội diễn ra trong tiếng trống chiêng vang rền.

Những ngày hôm sau cũng tiếp tục như ngày đầu tiên. Dân làng cũng không quên người chết, mang ra mộ thức ăn và rượu.

Từ khi sạ đến khi gặt lúa, người Lạch tiến hành nhiều lễ nghi.

Lễ sạ lúa (kuê ) đánh dấu thời kỳ cây lúa cùng sống với đất mẹ. Người ta dựng một cây nêu cao 1,1 – 1,3m làm bằng tre có đầu ngọn chẻ đôi, đặt ở mảnh đất đầu tiên cuối nguồn nước. Trên đầu cây nêu có treo các vật cúng: thịt gà, các cây pơndàng và dêng rồ để gọi lúa về và tăng năng suất.

Con trâu rất được kính trọng vì rất cần thiết trong nông nghiệp. Con trâu được hiến sinh khi con cái muốn tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ và nhất là khi mắc bệnh nặng. Sau khi cày bừa, người Lạch cử hành lễ tôn vinh trâu tổ chức ở trước nhà vào buổi chiều.

Người ta rửa cổ trâu vì cổ trâu phải đeo ách. Con trâu được xức rượu cần và máu gà. Người chủ nhà khấn thần trâu chữa lành vết thương cho trâu, đàn trâu được khoẻ mạnh, không bị dịch bệnh và xin thần linh tha thứ cho con người phải bắt trâu làm việc.

Khi cây lúa ngậm sữa (kuê bôn), người Lạch lại tiến hành lễ nghi khác. Nhiều loại cây nêu được dựng lên để các thần linh chú ý.

Một ngày trước khi gặt, người Lạch cử hành lễ lúa chín (kuê dôm). Người ta gặt vài bông lúa, đặt trên ruộng và khoảnh đất đập lúa để báo với thần linh sẽ gặt lúa và thần linh không ngăn cản. Trong dịp này, người Lạch kiêng cữ không cho mang thịt nai đến và ăn thịt nai vì con nai phá lúa.

Trước khi đập lúa, người Lạch giết gà và đổ rượu lên mặt đất để giữ thần lúa ở lại.

Khi lúa đã đập xong và thóc chất thành đống, người Lạch cử hành lễ nghi mời thần linh ăn cháo (huê yàng sih dà pòr).

Sau đó là lễ đưa thần lúa về nhà (nu truê rơhae).

Lễ nghi nông nghiệp cuối cùng là lễ mừng lúa mới (p b kuê). Lễ này rất đơn giản, người Lạch chỉ cúng hai quả trứng và khấn cầu thần lúa.

Lời cầu nguyện khi sạ lúa, khi lúa ngậm sữa và lễ hội ngày mùa được đọc bằng tiếng Chu-ru.

Ngoài những câu ca ngợi thần linh, người hành lễ nhắc đi nhắc lại những câu mời thần lúa:

“đến ăn

đến ung

đến hát

t hôm nay đến mai sau

t hôm nay đến mãi mãi

và xin thần linh:

“Con cu xin bình an

Con cu xin mnh gii

Con cu xin t do

cho mi người và muôn loài.

Con cu xin mt trăm gùi thóc

mt ngàn gùi thóc

mt triu gùi thóc

mt t gùi thóc

nhà con đy thóc

Con cu mong tr kho s gãy vì lúa nng

… “Mi người sng trong nhà

và tt c dân trong buôn

Xin Người cu h khi chết

cu h khi đói

cu h khi bnh

cu h khi gp điu xu

Xin Người theo dõi chúng con

phù h chúng con

… “Xin Người biến nhng người nghèo thành giàu

Xin Người cho nhng người yếu sc mnh”.

Lời cầu nguyện khi đập lúa và nhập thóc vào kho được đọc bằng tiếng Lạch:

“Hi lúa trên tri cao

Hi lúa trên mt trăng

Hi lúa trên các vì sao

Hi lúa ca gió

Hi lúa trong các tia chp

Con xin gi v

Hi lúa b gió thi

Hi lúa b ngâm nước mưa

Hi lúa b chim ăn

Hi lúa b chim s m

Hi lúa b chim cu gáy thu lượm

Con xin gi v

Hi lúa đã b đi vì cãi ln vi cha

Hi lúa đã b đi vì gây g vi m

Hi lúa đã b đi vì lưỡi dao và lim con đã dùng khi gt lúa

Hi lúa đã b đi vì s các v thn con đã mi v

Hi lúa đã b đi vì s các v thn đã đánh nhau trong ba tic

Hi lúa mà dân làng khiếp s

Con xin gi v

… “Hi lúa Jrơi Dng ca buôn Tơl hng

Hi lúa Bng ca buôn Kơnjàn

Hi lúa Suàn ca buôn Bng-dêng

Hi lúa Sêng ca buôn Lc-dng

Con xin khn cu

… “Nếu Người mt, xin Người đến đây ngh ngơi

Nếu Người đói, xin Người mãi nơi đây

Nếu Người quá mt vì đi xa, xin Người ngh ngơi nơi đây

Hi lúa!

… “Hãy xung đây đ ung

Hãy xung đây đ ăn

Hãy xung đây đ nhy múa

Hãy xung đây đ ca hát

… “Nếu Người là mt trăm, con xin Người đến đây

Nếu Người là by trăm, con xin Người đến đây

Nếu Người là năm trăm, con xin Người đến đây

Con xin mi, hi lúa phương Bc

Con xin mi, hi lúa phương Nam

Cu xin đy gùi khi mt tri mc

Cu xin lúa giã trong qu bu lên men

Cu xin rượu trong ché lên men và rui đ trng

…“Khi mt tri mc, xin Người đến đây ăn

Khi mt tri lên cao, xin Người đến đây ăn

Khi mt tri ln, xin Người đến đây xum hp

…“Xin Người li vi con

li rt đông

li đến khi sinh n” [39, 3 – 77]

*

Cũng như người Cơ-ho khác, kho tàng văn học dân gian của người Lạch rất phong phú gồm có ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cổ và các ca khúc.

“Ngal rl ai yt pơntài

Sre bà ai dà pơ yuai

Rơpu jè ai gai atòng”.

(Cày không ăn đất thì dùng dây cho dài

Ruộng không ướt phải cho nước vào

Trâu không đi thì lấy roi quất).

Nhiều câu tục ngữ dạy cách cư xử, đề cập đến phong tục, tập quán hay nhận xét về các hiện tượng thiên nhiên, các điều mê tín, dị đoan:

Nếu về đêm ngôi sao sáng, hôm sau trời sẽ nắng; nếu ngôi sao nhấp nháy, trời sẽ mưa.

Nếu trên đường đi anh thấy một con rắn, anh sẽ tìm thấy những gì anh muốn tìm.

Nếu con chó sinh ra 3 con chó con, đi săn nai rất tốt;

Nếu con chó sinh ra 2 con chó con, đi săn chuột rất tốt.

Thỉnh thoảng người Lạch nói ngược hay bóng gió. Ví dụ: Nếu một người nói đi kiếm củi trên núi có nghĩa là anh đi săn nai. Nếu người ấy nói: “Tre đã sẵn sàng, anh đốn đi!” có nghĩa là rượu đã sẵn sàng, mời anh uống.

Trong thời gian nhàn rỗi, người Lạch thường đố nhau:

Cây đuốc gì mạnh đến nỗi chiếu sáng cả vũ trụ?

Tr li: Mt trăng

Trái gì màu đỏ, người ta không thể sờ mó và cầm trong tay?

Ngn la

Người nào môi mấp máy nhưng thân không động đậy?

Thy cúng

Con rắn đi đêm đi ngày, đố là cái gì?

Dòng nước

Cô bé nho nhỏ nhưng ai cũng kêu đau?

Con mui

Mình còn sống mà đã lo đeo hòm?

Con sâu

Truyện cổ của người Lạch đôi khi rất dài, kể hết đêm này sang đêm khác. Truyện cổ có thể chia thành 5 loại:

– Truyện kể về nguồn gốc các đồ vật và vũ trụ;

– Sự tích các anh hùng huyền thoại;

– Truyện kể về các nhân vật có những hành động kỳ diệu;

– Truyện ma quỷ (ca) hay truyện người hoá cọp (somri);

– Truyện loài vật.

Trong truyện cổ, loài vật cũng có cuộc sống như loài người. Chúng có nhà, buôn làng, đồng ruộng, nông cụ, sống theo bộ tộc với phong tục, tập quán, ngôn ngữ như con người. Chúng cũng giã gạo, sử dụng vũ khí, giáo, mác, dao găm, khiên, đánh chiêng, đánh trống,…[30, 184]

Người Lạch rất yêu thích âm nhạc. Họ cất lên tiếng hát khi giã gạo, kéo cưa, múa, sinh hoạt gia đình, giao lưu bè bạn,… với những câu hát ngắn, lặp đi lặp lại nhiều lần, diễn tả niềm vui, nỗi buồn, nạn đói,…

Nhạc cụ có nhiều loại: sáo 4 lỗ (kơwao), sáo pnung bòc dùng trong lễ tang, sáo bầu 4 lỗ (kơrkhuk, barê), khèn bầu (kơmbuôt, komboat) với 6 ống cắm vào một quả bầu tạo thành thùng cộng hưởng, đàn môi(gọch, toung), đàn dây (rơding) làm bằng tre, trống (sơgơr, sơnggơr) bt 2 đu bng da nai hay trâu tơ,...

Chiêng đồng rất quý, trị giá bằng 8 hay 10 con trâu cái. 2, 3, 4 hay 6 người dùng nắm tay tấu chiêng, tạo ra những hoà âm: sol, la (tấu 2 chiêng); sol, la, si (tấu 3 chiêng); fa, sol, la, si (tấu 4 chiêng); si, ré, fa, sol, la, si (tấu 6 chiêng) [27, 1.078 – 1.080]

Đ LCH

Theo một số cụ già người Lạch, suối Cam Ly chảy qua thành phố Đà Lạt có 3 đoạn mang 3 tên khác nhau:

– Từ thượng nguồn đến ao Pàng Đờng (Tơnau Pàng Dòng) ở vị trí hồ Than Thở ngày nay, dòng suối mang tên Dà Pàng Dòng (Pàng: ông; Dòng: lớn);

– Từ ao Pàng Đờng đến thác Liêng Tô Sra (nay là thác Cam Ly), dòng suối mang tên Đạ Lạch (Dà Làc);

– Từ thác Liêng Tô Sra đến sông Đạ Đờng, dòng suối mang tên ông Mlơi (K’ Mlơi).

Về sau, K’ Mlơi nói trại thành Cam Ly, Đạ Lạch thành Đà Lạt.

Đạ (dà) chỉ chất lỏng và có nhiều nghĩa:

– nước (Anh nhô dà : tôi uống nước);

– suối (Dà K’ Mlơi : suối Cam Ly);

– dòng nước (Dà Dờng : dòng nước lớn, sông);

– dầu (Dà ồs : dầu lửa);

– nhựa (Dà chi : nhựa cây);

-…

Trong nhật ký ngày 21-6-1893, bác sĩ Yersin (Y-e-xen) không ghi tên buôn Đạ Lạch, chỉ ghi tên buôn Đăng Kia. Đăng Kia là buôn lớn nhất trên cao nguyên Lang Bi-an lúc bấy giờ.

Trên bản đồ Đông Dương in trong hồi ký của Toàn quyền Paul Doumer (Pôn Đu-me), không thấy ghiDalat nhưng có địa danh Dangkia. [29, 336]

Năm 1881, bác sĩ Paul Néis (Pôn Nê-ítx) đã lên cao nguyên Lang Bi-an và cho biết trong hai ngày 16-3-1881 và 7-4-1881 ông đã đến làng Lạch (village de Late).

Năm 1899, bác sĩ Tardif từ trên dãy núi Lang Bi-an đã nhìn thấy:

“Hình dáng mp mô ca cao nguyên tht là l lùng! Tôi leo lên mt trong năm đnh núi. Mt cnh quan kỳ diu hin ra trước mt tôi. 150 đi núi xanh rn ging như mt thúng cam khng l. Trong vùng núi đi trùng đip có vài làng mc: phía Nam, Đà Lt (Dalat); hơi chếch v hướng Tây, Đăng Gia (Dang Gia) và Ăn Krô-ét (Ankroet); dưới chân núi, B Nơ (Beneur). Xa xa, v hướng Đông là dãy núi Nha Trang; v phía Nam, hoành sơn ca thung lũng sông Đng Nai; v phía Tây và Tây Nam, nhng đnh núi cao ca Căm-pu-chia”.[50, 36]

Năm 1905, trong một dịp lên cao nguyên Lang Bi-an để thay đổi không khí, bà Gabrielle M. Vassal (Ga-bri-en-lơ M. Vát-xan) đã viết về cao nguyên:

“Vào khong gia trưa, tôi thy cao nguyên ln đu tiên. Tht là mt s phát hin bt ng, khác vi nhng gì trước đây tôi đã tng nghĩ! Trên mt vùng đt rng là nhng ngn đi tròn, nh, trơ tri, mc đy c thp, cùng hình dáng và đ cao, quang cnh ging như mt vùng bin gn sóng xanh. gia, nhng đnh núi Lang Bi-an cao vòi vi như hòn đo đá. Đăng Kia (Dankia) nm dưới chân núi Lang Bi-an, phía bên kia cao nguyên. Cao nguyên bình yên và êm du quá! Ch có thông mc trong nhng thung lũng gia các ngn đi.

Xa xa, nhng mái nhà g Đà Lt (Dalat) nm cách xa nhau trên đnh hay lưng chng đi lp lánh dưới ánh mt tri”. [69, 212]

Trong bản báo cáo về chuyến khảo sát bệnh sốt rét trên cao nguyên Lang Bi-an từ ngày 16-7 đến ngày 2-9-1905, bác sĩ Vassal công tác tại Viện Pasteur (Pa-xtơ) Nha Trang có nhắc đến các làng: Dalat, Dankia, Beneur, Ankroet, Numbor.

Hiện nay có những ý kiến khác nhau về buôn làng ở Đà Lạt.

* Trước thế kỷ XX, trên địa bàn Đà Lạt có nhiều buôn ở các vị trí sau:

BON VỊ TRÍ HIỆN NAY
Yộ

Rhàng Bon Ỵô

Klir Towach

Dàgut

Rhàng Pàng Mly

Mang Linh

Mho Prềnn

Đồi trường Cao Đẳng Sư phạm Đà Lạt

Học viện Lục Quân

Khóm (ấp) Hồng Lạc

Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng, khóm (ấp) Mỹ Lộc

Chân thác Cam Ly

Sân bay Cam Ly

Dọc suối Prenn

* Đầu thế kỷ XX, ở Đà Lạt có nhiều buôn ở các địa điểm hiện nay là: Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng,  gần thác Cam Ly, đường Phan Bội Châu,… buôn lớn nhất là Bon Yộä ở trên đồi Trường Cao đẳng Sư phạm hiện nay. Vì ở gần suối Đạ Lạch nên Bon Yộ còn gọi là Bon Đạ Lạch (Bon Dà Làc).

Cư dân buôn Đạ Lạch trồng lúa nước dọc theo suối Đạ Lạch. Năm 1919, Hồ Lớn (hồ Xuân Hương ngày nay) được xây dựng, ruộng lúa nằm trong lòng hồ, người Lạch ở buôn Đạ Lạch phải dời đến Bon Rơhàng Kròc (Rơhàng: buôn cũ; kròc: cam; plê kròc: trái cam; người Pháp phiên âm là Ankroet). Đến năm 1942, khi xây dựng đập Suối Vàng, người Lạch lại phải dời đến buôn Đơng Tiang Đe (Tiang: đuôi, đe: con chuột) ở trung tâm huyện Lạc Dương hiện nay.

Theo ý kiến này, Đà Lạt không những mang tên dòng suối Đạ Lạch nhưng còn mang tên buôn Đạ Lạch như  thành phố Buôn Ma Thuột (Buôn: làng; Ama: cha; Thuột: tên người con), Plây Cu (Plei: buôn làng; ku: đuôi) hay các thị trấn: Đạ M’Ri (dà: nước, suối,…; tam: trong; bri: rng), Đc Nông (Đc Lc), Đc Sút, Đc Tô (Công Tum),…

NGƯỜI KINH TRÊN CAO NGUYÊN LANG BI-AN

Ngày xưa, Lâm Đồng nói chung, cao nguyên Lang Bi-an nói riêng vẫn còn rất hoang vu.

Đi Nam nht thng chí xuất bản dưới triều Nguyễn cho biết:

Di Dinh th ph có 20 buôn: Phí Bà Nam, Băng Dng, Giang Trang, Phi Chân, Phi L, Băng Trang, Tầm Bạch, Thẩm Luật, Bàn Tấu, La Miên, Năm Luân, Giang Tre, Băng Bí Thuỷ, Băng Bí Hoả, Lưu Miên, Băng Trinh, Năng Duy, Phí Cố, Chân Dựng, Phi Chinh (1).

 
Đoạn Di Dinh thổ phủ trong Đại Nam nhất thống chí

Tư liệu có nhắc đến một dòng sông:”Tây hữu Dã Dương giang bt thâm nhi qung, trung đa ngc ngư (Ở phía Tây có sông Dã Dương (2) không sâu mà rộng, trong đó có nhiều cá sấu).

Tư liệu còn giới thiệu về sinh hoạt cư dân ở hai bên bờ sông này: Ở phía Nam sông, người Hoa thỉnh thoảng có đi lại buôn bán. Ở phía Bắc sông, ít có ai đến. Năm Tự Đức thứ 19, triều đình có phái người đi thăm dò nhưng vì người Thượng sợ tránh, không dám dẫn đường nên phải trở về. [3]

Năm 1877, trong thời gian làm Dinh điền sứ tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Thông (1826 – 1894) – một sĩ phu yêu nước – đã tổ chức thám hiểm vùng đất giữa ba con sông: La Ngà, Đạ Hu-oai và Đồng Nai với dự định lập đồn điền khai khẩn vùng thượng du. Ông đã phái Nguyễn Văn Trị, Sĩ Văn Long, Dương Văn Long và Hoàng Phú đến sông Đạ Đờng để xem xét tình thế. Trong tờ sớ dâng lên vua Tự Đức ngày 11 tháng 8 năm Tự Đức thứ 30 (17-9-1877), ông viết:

“Ngày mùng 8 tháng 6 thì đến sông ln Đ Đưng, rng khong năm sáu mươi trượng, nước đc ngu, gia có đo dài. Người Man gi nước là “đ”, ln là “đưng”, cũng như người Vit nói là “sông ln”. Đ Đưng, người Vit gi là sông Dã Dương, h lưu là sông ln Thn Quy. T sách Man Mê-pu đi đến sông Tô S, dc đường phn nhiu là núi cao, t Côn Hiên đến sông Đ Đưng đu là đt bng, đa thế rng rãi, khong khoát, có th khám xét đ lp đn đin khn hoang.”[2, 197]

Cao nguyên Lang Bi-an là một vùng ma thiêng nước độc, người Kinh không dám định cư bên kia sông Krong Pha, chỉ dừng lại ở Xóm Gòn (gần Krong-pha, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận hiện nay) vì cọp beo, rắn rết và nhất là bệnh sốt rét rừng.

Ông Canivey (Ca-ni-vây) là một người Pháp đã sống trên cao nguyên Lang Bi-an để thu thuế.

Năm 1905, trong bữa ăn trưa ở nhà ông Canivey tại Đà Lạt, bà Gabrielle M. Vassal đã được nghe vợ chồng ông Canivey kể một câu chuyện về cọp xảy ra 4 năm về trước:

“Hôm y, cách nhà không xa, v chng ông Canivey thy mt con cp bìa rng. Ông Canivey giơ súng lên bn. Con cp b thương gm thét chy vào rng. Mt người lính Vit xách súng cùng ông đui theo. Xuyên qua cành cây, bà Canivey thy con cp dùng hai chân trước v vào vai ca chng bà và ngm khu súng. Người lính tiến gn li và n súng vào đu con cp. Con vt rng lên và ngã qu xung đt. Bà Canivey chy đến, thy chng bà máu me đy mình. Ông đi b v nhà, nhưng lúc by gi không có bác sĩ, ông phi nm mê man my ngày lin. Bà vn còn hãi hùng khi nghe cp gm v đêm.” [69, 213 – 214]

Năm 1907, chồng bà Gabrielle – bác sĩ J.J.Vassal – cho biết:

“Người Kinh chưa đnh cư trên nhng vùng cao ca dãy Trường Sơn. Đà Lt có mt nhóm 60 đến 80 người Kinh, hu hết là nhng người đi buôn chuyến. H sng trong nhng điu kin rt kh cc, mc ít áo qun như vùng đng bng, b lnh, thiếu dinh dưỡng và không có gia đình. T Phan Rang hay Phan Thiết lên cao nguyên, vi nhng gánh hàng hoá, h đi ngang qua nhng làng mc đy nước đc, nhng vùng rt nguy him và mc phi bnh st rét.”[51, 358]

Một số tư liệu viết về hồ Than Thở thường nhắc đến câu chuyện tưởng tượng Hoàng Tùng – Mai Nương:

Hoàng Tùng chia tay Mai Nương bên bờ hồ Than Thở, ra đi theo nghĩa quân Tây Sơn. Nghe tin Hoàng Tùng tử trận, Mai Nương nhảy xuống hồ tự vẫn. Mấy tháng sau, Hoàng Tùng trở về nhưng Mai Nương không còn nữa. Khi nghe tin triều đại Tây Sơn sụp đổ,  Hoàng Tùng buồn bã nhảy xuống hồ chết theo Mai Nương. Do đó hồ này về sau gọi là hồ Than Thở.

Vào thời Tây Sơn, người Việt chưa định cư trên cao nguyên Lang Bi-an, ở vị trí của hồ Than Thở hiện nay chỉ có một cái ao nhỏ (Tơnau Pàng Dòng).

Năm 1920, người Pháp cho đắp đập chặn nước tạo thành hồ   cung cấp nước sinh hoạt cho một phần thành phố Đà Lạt.

Nhận thấy vùng này rất hoang vu, chỉ nghe tiếng gió rì rào qua kẽ lá tạo thành một khúc nhạc buồn, người Pháp mới đặt tên là Lac des Soupirs.

Từ điển Petit Larousse xuất bản năm 1965, trang 983, định nghĩa chữ SOUPIR như sau:

SOUPIR: Respiration forte et prolongée, occasionnée par la douleur, une émotion.

Poét. Son doux et mélancolique: les soupirs du vent dans les bois.

Rendre le dernier soupir: mourir.

Mus. Pause qui équivaut à une noire.

Tạm dịch:

1. Sự thở mạnh và kéo dài khi đau đớn, xúc cảm.

2. Trong thơ, tiếng động êm dịu và du dương: tiếng gió thổi trong rừng.

3. Thở hơi cuối cùng: chết.

4. Trong âm nhạc, dấu nghỉ tương đương với nốt đen.

Như vậy, nghĩa thứ hai (tiếng gió thi trong rng) là đúng nhất. Nhưng Lac des Soupirs khi dịch sang tiếng Việt nếu dịch là h Rì Rào, h Gió thi trong rng không thuận nên đành dịch theo nghĩa thứ nhất:hồ Than Th.