Tag Archives: tìm hiểu về đà lạt

Nghĩ Về Đà Lạt

Hơn 10 năm trước  đọc truyện ngắn “Đà Lạt trong sương”. Từ đó vấn vương cái tên gọi Đà Lạt, những đồi thông, những biệt thự u tịch, làn sương ẩm ướt, nỗi buồn lưu cữu và thanh tao. Chưa gặp đã đem lòng yêu.

Sáng nay tôi ngồi trong tiệm café, trên véran – da ngôi nhà vốn là biệt thự, cách hồ Xuân Hương vài ba trăm mét. Trước mắt, mặt nước, rồi đồi Cù lững thững mấy cây thông trên nền cỏ chải chuốt, rồi tít tấp xa xa bóng dáng dãy Langbiang. Bầu trời xanh vắng sương vắng mây. Thân hình một cây thông đơn côi, đen đủi cuốn hút tâm trí tôi. Vài cái cành, cũng đen đủi, bị đốn lưng chừng, hệt như người bị chặt tay, hệt như con cua bị bẻ càng.

Chạnh lòng liên tưởng bức hoạ của Salvatore Daly: Trên nền trời sáng choang mà không ánh nắng, trong bầu không khí vắt kiệt nước, một thi thể con người chết mà không rữa, phanh cái ngực với bộ sườn như thể phím đàn, một con nhặng giống thật hơn thật ghim ở một góc. Khúc gỗ thông đặt ở góc véranda tôi ngồi, tưởng như cũng lồng ghép vào bức hoạ đó. Vì sao người ta đặt nó ở đây nhỉ? Phần lưu lại của một cây thông kỷ niệm nào đó chăng? Nay mai biết đâu người chủ tiệm lại xin về một đoạn của cái cây còn đứng kia, đặt vào góc đối diện cho cân xứng?

Nén suy tưởng siêu thực đi, tôi hướng mặt về bên kia hồ, phía tay trái: khu chợ trung tâm, một khối kiến trúc trắng chói lòa, chen lèn nhau về các hướng. Tràn trề sức sống và sự chuyển động, Đà Lạt hôm nay xem ra không có gì liên quan đến hình ảnh cây thông cành cụt kia. Nó lan tỏa ra, đồ sộ lên, giàu có lên trông thấy. Ví sự phát triển bùng nổ này với cái cây tươi tốt, mới phải.

Thế nhưng tôi không tài nào thoát khỏi sự cảm nhận gia tăng sau mỗi lần trở lại: Cái cây đang lớn nhanh cả về chiều rộng lẫn chiều cao ấy, đang vô tình cầm con dao dựa, cúi xuống băm vào gốc rễ mình.

…Có những cái gì đó đang mất mát đi, đang tan vỡ đi trong cơ thể đô thị, có lẽ tinh tế nhất, trọn vẹn nhất trên đất nước mình.

Đà Lạt, đô thị hầu như duy nhất ở nước ta có ngày sinh tháng đẻ chính xác, được tạo dựng nên lần đầu tiên trong lịch sử xây dựng của nước nhà chỉ để làm nơi nghỉ dưỡng. Một đô thị xây dựng ngay từ đầu theo ý tưởng và quy hoạch nhất quán, bởi thế mà, chỉ qua vài ba thập kỷ, đã kịp định hình cho mìn diện mạo riêng.

Đà Lạt, cũng có thể là duy nhất trong các đô thị ở nước ta, trong công cuộc hiện đại hóa tất yếu, có cơ may giữ lại và phát huy tính thống nhất giữa thiên nhiên và đô thị, tinh hài hòa trong chuyển hóa không gian và kiến trúc.

Đà Lạt là một hiện tượng đô thị. Người châu âu gọi là urban phenomenon. Cái hiện tượng, cái phenomenon ấy được tạo nên bởi sự hòa nhập kỳ diệu giữa thiên nhiên, trời phú cho, và đô thị, Người dựng nên. Hòa nhập một cách hữu cơ, một cách tự nhiên, đến mức tưởng như không thể nào tạo lập khung cảnh trời đất phù hợp hơn cho phong cánh kiến trúc này, cùng như không thể nào tạo lập khung cảnh kiến trúc phù hợp hơn cho khung cảnh trời đất này.

Hơn thế nữa, Đà Lạt là một mẫu mực về sự ứng xử văn hóa đối với tạo hóa, khi con người kiến tạo những thiết chế sống của mình, – ngôi nhà và đô thị. Một sự thế nghiệm, khởi xướng cách đây ngót thế kỷ, của nền xây dựng đô thị thời hậu hiện đại, hướng vào thiên nhiên, – đô thị sinh thái.


Hồ Xuân Hương

Đà Lạt cho đến hôm nay vẫn đang sở hữu một hệ thống tài nguyên: Thiên nhiên, cảnh quan nhân văn hóa, quỹ đô thị, quỹ kiến trúc và văn hóa sống đô thị. Hễ một trong số tài nguyên này bị suy suyển, là cái tổng thể trọn vẹn bị xộc xệch. Hễ các tài nguyên cùng bị suy suyển, là cái tổng thể trọn vẹn, mệnh danh là Đà Lạt, tan vỡ.

Sự tan vỡ đã bắt đầu nhận ra rồi.

Nhìn từ máy bay, khi nó giảm độ cao để đáp xuống Liên Khương, ta có thể nhận thấy rõ và đầy đủ mức độ can thiệp nghiêm trọng như thế nào vào tòa thiên nhiên. Những mảnh rừng sót lại giống như những mảng vá. Đất đai bị cày xới, đào khoét.. Một vùng đất trời vốn bát ngát, vốn xanh tươi và mát lành, co lại dần thành những ốc đảo. Vào cửa ngõ thành phố, thấy những cánh rừng thông. Tiến sát vào trung tâm, rừng thưa nhanh. Nhiều nơi thưa thớt vài cây, xa lạ ngay trên mảnh đất của chính mình. Đà Lạt vốn là thành phố của những cây thông. Thiếu bóng dáng cây thông, thiếu rừng thông, Đà Lạt liệu còn có là nó nữa không? Nghe nói, gần đây đã trồng mới gần 40 ha rừng thông. Có lẽ là ở ngoại ô. Còn ở khu trung tâm số còn lại có thể đếm được. Đã đến lúc phải kiểm kê từng cây, nhất là những cây cao tuổi, để bảo vệ như là vốn liếng. Quanh hồ Xuân Hương đã được tôn tạo, trồng nhiều loại cây: tùng, xá xị, long não, thông… Song thông, vì lí do nào đó, trồng ít. Trên đất Đà Lạt, thông đứng đâu cũng đẹp. Những khoảng trống vắng chỉ có thể lấp đầy bởi những cây thông mà thôi.

Hãy thử tạo nên một cái lệ mới: Hễ có người mới sinh ra, trồng một cây thông. Có người kết hôn, trồng hai cây thông. Có người ra đi, trồng một cây. Vĩnh cửu hóa những chặng đường của kiếp làm người bằng những cây thông, xem ra ta đã dựng những “tượng đài” xanh triết lý nhất cho mình.

Ở nước ta chỉ có hai đô thị mà trung tâm là hồ.

Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội nối phần đô thị Việt với phần đô thị thời thực dân thành một thể thống nhất. Nơi phố xá chật hẹp, vẫn có chỗ cho cảnh, cho cõi tâm linh. Hồ Xuân Hương ngay từ đầu đã được các nhà quy hoạch coi là trung tâm, nhưng không bằng việc xây cất quanh nó những công trình to tát, mà bằng cách né tránh, để nguyên vẹn, ngoại trừ con đường bao quanh. Từ khu trung tâm, nơi nhà thờ Con Gà và khách sạn Palace tọa lạc, cả một khung cảnh giang sơn tít táp mở ra cho đến tận chân trời, án ngữ bởi dãy Langbiang mà thôi.

Các đường phố được lồng ghép khéo léo vào thế núi đồi, tối thiểu hoá mọi sự can thiệp và bộc lộ rõ những ưu thế của từng vị trí đất. Công sở, dinh thự, biệt thự, bố cục phân tán trong không gian đồi thông và những con đường xen kẽ. Cùng với quy mô chừng mực của kiến trúc, lối quy hoạch này tạo nên cấu trúc không gian chuyển hoá mềm mại, hệ tỷ lệ xích tinh tế cho đô thị. Chính cái sự tinh tế này đang bị xâm hại một cách sở thị nhất. Ở nhiều nơi sườn núi bị san ủi để chia lô xây nhà mạt phố. Lối quy hoạch nhà liền kề nhan nhản khắp các đô thị nước ta, ở đâu chứ ở Đà Lạt thì quả là dị thể. Không gian giữa những tòa nhà, vốn để không mà không trống, bị xen cấy vào những công trình mới, to quá cỡ, bởi kiểu cách và màu sắc thách thức. Vài con đường mở rộng quá khổ, ở giữa khu trung tâm cũ đã định hình. Thế là, cơ thể đô thị nhuần nhị tan vỡ, sự thống nhất trọn vẹn suy suyển. Có lẽ là mãi mãi.

Quỹ kiến trúc Đà Lạt đặc trưng bởi bộ sưu tập các loại hình và phong cách kiến trúc Pháp thời kỳ chuyển tiếp từ chủ nghĩa cổ điển sang kiến trúc hiện đại. Tuy tiền mẫu của các công trình kiến trúc này dễ dàng tìm thấy ở các địa phương của nước Pháp, song không thể phủ nhận rằng chúng hoàn toàn phù hợp với các điều kiện thiên nhiên và khí hậu Đà Lạt, phù hợp trên mức có thể với cảnh quan trời đất ở đây. Sở dĩ cái vốn kiến trúc đó đã trở thành hữu cơ và trở thành khuôn mặt riêng tư của Đà Lạt, bởi từng ngôi nhà đã được chọn đúng kiểu dáng và đặt đúng chỗ, từng ngôi nhà đều có sự chuyển tiếp tự nhiên từ đất lên và ăn nhập với chính chỗ nó đứng. Từng ngôi nhà được lồng cấy vào khung cảnh, không ngự trị, càng không chiếm lĩnh. Véranda, hiện diện ở từng ngôi nhà, tạo nên sự chuyển tiếp từ những căn phòng ngăn kín sang thiên nhiên. Nó như con mắt của biệt thự, hướng nhìn vào cảnh trí. Khi biệt thự biến thành chung cư, véranda biến thành chỗ ở, con mắt ấy đã nhắm lại.

Không rõ, trong số hơn hai nghìn biệt thự, bao nhiêu cái còn được sử dụng với chức năng cũ, bao nhiêu cái dùng làm chung cư hoặc bị bỏ hoang. Dinh thự biệt thự ở Đà Lạt là một quỹ kiến trúc vô giá về mát tài sản vật chất, sử dụng, kiến trúc, cảnh quan và thẩm mỹ. Một ngày nào đó, quỹ kiến trúc này sẽ được công nhận là di sản văn hoá. Tất nhiên, nếu nó còn.

Đà Lạt là tác phẩm của nền kiến trúc phong cảnh. Song cái tính chất kiến trúc phong cảnh đó không được tạo nên bởi hệ thống những vườn hoa và những công viên như thông thường, mà bởi chính cái nền cảnh thiên nhiên, trong đó kiến trúc chỉ là sự bổ sung vào, do đó, làm các vườn hoa, các công viên phong cảnh hoặc những tiểu cảnh trong các khuôn viên là chưa đủ, chưa hẳn là cách ứng xử đặc thù cho riêng Đà Lạt, mà phải chăm sóc và khôi phục cái vườn hoa vĩ đại Trời cho, – cảnh quan thiên nhiên. Vâng, đã đến lúc phải đặt vấn đề khôi phục cảnh quan, như một tài nguyên, như một di sân. Nó là cái nôi của thành phố này.

Nói về văn hóa sống của một chốn đô thị, vốn là nơi nghỉ dưỡng mới hơn trăm tuổi, có vẻ vội vàng chăng? Song, không thể không nhận ra những nét riêng trong cốt cách, trong cách sống của người Đà Lạt. Thành phố này đã thu hút người tứ xứ đến nghỉ, đến định cư lâu dài. Nông dân xứ Bắc, quen thâm canh ruộng, đến đây thâm canh nghề vườn. Những làng- vườn, góp phần tạo nên bản sắc và cảnh sắc cho thành phố, giống như các đô thị truyền thống ở ta, vừa có thị lại vừa có thôn. Người từ các tỉnh về đây làm việc phục dịch cho người Tây và người Ta nghỉ mát. Ấy là chưa nói đến những gia đình trí thức tiểu tư sản từ Bắc kỳ kéo nhau vào để tìm nơi chốn yên ắng. Hình như bây giờ lác đác cũng có những người nghĩ theo cách đó. Người Pháp đến đây không chỉ để tránh cái nóng dưới đồng bằng. Năm 1948, trong số một vạn rưỡi dân, đã có hơn hai ngàn người Pháp. Lối sống, lối nghĩ của các cộng đồng dân cư dần dà đã hoà trộn, quện xoắn vào nhau, tạo nên sắc thái riêng trong văn hóa đô thị Đà Lạt. Thiên nhiên, cảnh quan, đô thị, kiến trúc, hình thái hoạt động xã hội, cùng với sự cộng sinh văn hoá của các miền và các xứ, đã nhào luyện nên bản sắc trong văn hoá sống của người Đà Lạt. Nó là thành phần hữu cơ của cơ thể đô thị Đà Lạt thống nhất nhuần nhuyễn. Về phương diện này, cũng đang diễn ra sự xộc xệch nào đó. Giữa các đô thị bành trướng nhanh và sống quay cuồng, ta thèm muốn giữ lại những đô thị mà người dân đi không vội, ăn không nhanh, nói không to. Vẫn giữ được cái sự hiền từ. Đà Lạt có cơ may là thành thị như thế.

Thả bộ giữa Đà Lạt, nhận thêm ra những dấu hiệu làm ta e ngại về sự tan vỡ trong phát triển. Hình bóng nhà thờ Con Gà như một tín hiệu của Đà Lạt đã bị những khối nhà che lấp hẳn. Ở các làng hoa, nhà cửa trở nên hỗn độn. Con suối Cam Ly cuốn theo khí nặng của nền văn minh hiện đại. Năm chiếc cầu bê tông vươn ra mặt hồ Xuân Hương làm theo kỹ thuật nhân bản vô tính. Nghe nói, khách sạn Ngọc Lan, đứng trên đồi, sắp lên chín tầng, thách đố núi đồi chăng?

Đà Lạt phát triển nhanh quá: to và rộng ra, đông lên, đường thênh thang, nhà mới nhiều, đời sống khấm khá lên. Hiện đại hóa và đô thị hóa là con đường chung. Phát triển không kém ai, nhưng vẫn phải là “mình”. “Mình” ở đây là hệ thống “gien” của Đà Lạt, nếu được duy trì và phát huy. Chúng tiềm ẩn trong thiên nhiên, trong đô thị, trong kiến trúc, trong nếp sông…

Đà Lạt đã có cái cốt, cái nhân.

…Tôi mơ những rừng thông trở về che phủ cho những mái nhà và những đường phố cũ của Đà Lạt. Tôi mơ những khu xây dựng mới sẽ nhũn nhặn núp mình dưới những rặng thông. Và làn sương ẩm ướt sẽ lan tỏa mãi mãi trên cái sự nhất thể kỳ diệu giữa Đất- Trời – Kiến trúc-Con người, mệnh danh là Đà Lạt.

Advertisements

Thác Voi

Vị trí: Thác Liêng Rơwoa hay còn gọi là Thác Voi nằm ở thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, cách thành phố Đà Lạt 25km về hướng tây nam.

Đặc điểm: Thác Voi là một trong những thác nước đẹp của Tây Nguyên hùng vĩ với chiều cao hơn 30m, rộng chừng 15m.

Các già làng K’ho cư trú lâu đời ở miền đất này kể rằng: Ngày xưa, vị tù trưởng của vùng núi Jơi Biêng có cô con gái rất đẹp. Mỗi khi sơn nữ cất giọng hát thì lá rừng thôi xào xạc, đàn chim ngừng tiếng hót để lắng nghe. Người yêu của nàng là con trai của tù trưởng làng bên. Chàng được nhiều người yêu mến, quý trọng không chỉ bởi vóc dáng vạm vỡ, khuôn mặt khôi ngô mà còn vì sự gan góc, dũng cảm ít ai sánh kịp. Họ đã trao lời hẹn ước nên duyên chồng vợ song chàng trai phải lên đường giết giặc và rồi nhiều mùa trăng trôi qua mà chẳng thấy quay về. Cô gái đau khổ tìm đến ngọn núi hoang vắng mà trước kia họ từng hò hẹn, cất tiếng hát tha thiết, sầu thảm với hy vọng người trong mộng tìm về chốn xưa. Tiếng hát khiến loài chim B’ling  xúc động. Chúng rủ nhau bay đi thật xa để dò la tin tức rồi về báo cho nàng biết là chàng trai đã hy sinh ngoài chiến trường. Thế nhưng, sơn nữ vẫn không chịu chấp nhận sự thật phũ phàng đó. Nàng cứ hát, hát mãi cho đến khi kiệt sức, ngã quỵ và không bao giờ gượng dậy được nữa. Đàn voi phủ phục nghe nàng hát bấy lâu nay cũng hóa đá lặng câm. Bỗng có tiếng nổ lớn, trời đất rung chuyển khiến ngọn núi gãy ngang và một dòng thác đột ngột tuôn chảy, tung bọt trắng xóa. Tiếng thác nước rì rầm hòa cùng tiếng xào xạc của rừng cây, tiếng líu lo chim hót như tiếp nối lời ca, tiếng đàn của sơn nữ xinh đẹp, thủy chung. Người K’ho bèn đặt tên cho thác là Liêng Rơwoa Jơi Biêng – thác của những con voi phủ phục hóa đá trước tình yêu nồng nàn, son sắt.

Sẽ thật đáng tiếc khi đến Đà Lạt – Lâm Đồng mà không tới Liêng Rơwoa (thác Voi) kỳ bí, thơ mộng. Thác nước gắn liền với sự tích về mối tình thủy chung, bi tráng này đã được công nhận là di tích thắng cảnh quốc gia. Dòng nước trong veo tuôn chảy qua sườn núi đá hoa cương trông thật ngoạn mục, nhất là khi ánh nắng rực rỡ chiếu rọi xuống thác làm bừng lên cầu vồng bảy sắc. Muốn xuống chân thác, du khách phải “chinh phục” 145 bậc tam cấp vòng vèo: khi là những bậc đá thiên tạo “ăn” vào vách núi cheo leo, lúc là các tấm ván của chiếc cầu gỗ xinh xinh chênh vênh bên bờ vực thẳm. Ngút tầm mắt là rừng đại ngàn với những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, thân và cành chằng chịt dây leo. Giữa mênh mang, lớp lớp cây rừng mầu xanh ngắt hoặc điểm xuyết những chòm lá đỏ rực như lửa, những thảm hoa màu vàng tươi hoặc tím biếc đẹp đến lạ lùng. Dưới chân thác và trong cánh rừng già xuất hiện một số tảng đá lớn có hình thù hệt như những con voi. Thế nên, tiếng thác đổ ầm ào khiến người thưởng ngoạn tưởng như có một đàn voi chạy đua hoặc tung vòi phun nước đùa nghịch với nhau. Phía sau dòng thác trắng xóa đang tung bụi nước mù mịt là những hang động sâu hun hút đầy bí ẩn. Đó là hang Dơi ăn sâu xuống lòng đất đến 50m với những vách đá có các hình thù, mầu sắc rất lạ mắt. Rễ cây và dây leo đan xen chằng chịt, càng xuống sâu, hang càng tối nhờ nhờ và lạnh lẽo như động của phù thủy. Đó là hang Gió với lối vào rất hẹp nhưng bên trong khá rộng, vi vút tiếng sáo gió trời.

Bên cạnh vẻ đẹp quyến rũ, thơ mộng, thác Voi từng là cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp – Mỹ. Mới được tôn tạo thành điểm tham quan du lịch trong những năm gần đây, song thác Voi nhanh chóng được công nhận là di tích văn hóa – lịch sử cấp quốc gia. Một dự án đầu tư 20 tỷ đồng để nâng cấp thắng cảnh Liêng Rơwoa trong những năm 2003 – 2005 cũng đã được chính quyền địa phương phê duyệt. Tuy nhiên, nguyện vọng tha thiết nhất mà những người yêu thác Voi nhắn nhủ các nhà đầu tư là hãy thận trọng, đừng làm mất đi vẻ hoang sơ kỳ bí của sơn nữ Liêng Rơwoa.

NIÊN BIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

Từ xa xưa, bộ tộc người Lạch, Chil sinh sống trên cao nguyên Lang Biang, người Srê sống trong buôn Tơrnun (nay thuộc xã Tà Nung).

1881 Bác sĩ Paul Néis và trung uý Albert Septans thám hiểm cao nguyên Lang Biang.

1893 Ngày 21-6, bác sĩ Alexandre Yersin đến cao nguyên Lang Biang.

1897 *   Ngày 19-7, bác sĩ Alexandre Yersin gửi thư đến Toàn quyền Paul Doumer đề xuất chọn cao nguyên Lang Biang lập nơi nghỉ dưỡng.

*   Phái đoàn Thouard nghiên cứu tìm một con đường từ Nha Trang lên cao nguyên Lang Biang.

1898 * Thành lập trạm nông nghiệp và trạm khí tượng tại Đăng Kia.

1899 * Toàn quyền Paul Doumer cùng bác sĩ Alexandre Yersin tiến hành khảo sát cao nguyên Lang Biang.

*   Đại uý Guynet xây dựng con đường từ Ninh Thuận lên cao nguyên Lang Biang.

1899 Ngày 1-11, Toàn quyền Paul Doumer ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và hai trạm hành chính ở Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Biang.

1900 *   Hoàn thành đường bộ Tháp Chàm – Xóm Gòn – Dran – Đà Lạt.

*   Dựng nhà Đốc lý ở Đà Lạt.

1901 Toàn quyền Paul Doumer quyết định lập tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt.

1902 Toàn quyền Paul Doumer về Pháp, dự án đồ sộ xây dựng thành phố Đà Lạt bị ngưng lại.

1903 Bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, trạm hành chính Lang Biang trực thuộc đạo Ninh Thuận.

1906 Hội đồng Quốc phòng Đông Dương họp ở Đà Lạt quyết định chọn cao nguyên Lang Biang làm nơi nghỉ dưỡng.

1907 Xây dựng Hôtel du Lac.

1908 Chuyển trạm nông nghiệp từ Đăng Kia về Đà Lạt.

1909 Chuyển trạm khí tượng từ Đăng Kia về Đà Lạt.

1911 Toàn quyền Albert Sarraut chủ trương cho xây dựng gấp đường giao thông lên Đà Lạt.

1912 Tiếp tục xây dựng đoạn đường sắt từ Phan Rang đến Xóm Gòn bị bỏ dở từ năm 1902.

1913 Xây dựng đường Phan Thiết – Ma Lâm – Djiring.

1914 * Chiến tranh thế giới lần thứ nhất xảy ra, nhiều người Pháp lên Đà Lạt nghỉ dưỡng.

* Chiếc ô tô đầu tiên từ Phan Thiết lên Đà Lạt.

1916 * Ngày 6-1, Toàn quyền Roume ký Nghị định thành lập tỉnh Lang Biang.

* Ngày 20-4, Hội đồng nhiếp chính triều đình Huế thông báo Dụ thành lập thị tứ
Đà Lạt.

* Ngày 30-5, Khâm sứ J.E. Charles ký Nghị định thành lập thị tứ Đà Lạt.

* Khởi công xây dựng khách sạn Langbian Palace.

1918 * Tạp chí Nam Phong đăng bài Lâm Viên hành trình nhật ký của Thượng thư Đoàn Đình Duyệt.

* Lập dưỡng viện thừa sai.

1919 * Ngăn đập tạo hồ trên dòng suối Cam Ly.

* Ngày 20-12, khai giảng trường Nazareth.

1920 * Ngày 31-10, Toàn quyền Maurice Long ký Nghị định thành lập thị xã Đà Lạt, Sở Nghỉ dưỡng Lang Bian và Du lịch Nam Trung Kỳ.

* Xây dựng đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt.

* Xây đình Đa Lạc.

* Thành lập ấp Tân Lạc.

* Xây dựng Kho bạc Đà Lạt.

1921 * Xây dựng bưu điện.

* Thành lập trạm xá đầu tiên ở Đà Lạt.

* Xây dựng chùa Linh Quang

1922 * Khánh thành khách sạn Langbian Palace (nay là Sofitel Dalat Palace).

* Khởi công xây dựng khách sạn Hôtel du Parc (nay là Novotel Dalat).

1923 * Hoàn thành đồ án quy hoạch Đà Lạt của kiến trúc sư Ernest Hébrard.

* Xây dựng đập thứ hai trên dòng suối Cam Ly phía dưới đập được xây dựng năm 1919.

1927 * Khởi công xây dựng trường Petit Lycée.

* Thành lập Sở Trà Cầu Đất, lập các làng Trường Xuân, Trạm Hành.

* Bão lớn phá huỷ đập ngăn suối Cam Ly và đập của nông trại O’Neill.

1928 * Thành lập Trường Tiểu học Đà Lạt.

* Khánh thành nhà máy điện.

1929 * Khởi công xây dựng trường Grand Lycée.

* Thành lập chi bộ Tân Việt.

1930 Thành lập chi bộ Đảng Cộng sản.

1931 * Chợ Cây bị cháy.

1932 * Hoàn thành đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt.

* Khởi công xây dựng Ga Đà Lạt.

* Khai thông đường Sài Gòn – Đà Lạt qua đèo Blao (quốc lộ 20 hiện nay).

1933 * Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ Đà Lạt trăng mờ và Quách Tấn sáng tác bài thơ Đà Lạt đêm sương.

* Hoàn tất giai đoạn đầu việc xây dựng phi trường Liên Khương.

1934 * Xây dựng đập tạo thành Hồ Lớn (Grand Lac, hồ Xuân Hương này nay).

* Xây dựng chợ Đà Lạt.

1935 * Thành lập Công ty Du lịch.

* Khánh thành Trường Trung học Yersin.

1936 * Khánh thành Viện Pasteur, trường Couvent des Oiseaux (Notre Dame du Langbian).

* Khánh thành sân golf 9 lỗ.

* Xây dựng nhà thờ Tin Lành.

* Đình công tại Sở Trà Cầu Đất.

1937 * Khai thông quốc lộ 21 nối liền Đồng Nai Thượng với Đắc Lắc.

* Khánh thành Dinh Toàn quyền (Dinh II).

* Khai giảng trường Petit Lycée.

* Thành lập nhóm Tiến Bộ, mở hiệu sách Hồng Nhật.

1938 * Thành lập ấp Hà Đông.

* Khánh thành nhà ga Đà Lạt.

* Xây dựng nhà máy nước gần hồ Than Thở.

* Công nhân hãng SIDEC đình công.

* Ngày 1-5, Hội Thanh niên Du lịch và nhóm Tiến Bộ tổ chức mít tinh tại khu rừng Cam Ly.

1939 * Thành lập trường Thiếu sinh quân Đà Lạt.

* Thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ, Hội Ái hữu.

1940 * Thành lập ấp Nghệ Tĩnh.

* Khánh thành chùa Linh Sơn.

* Thành lập Uỷ ban Mặt trận phản đế ( Lâm Viên – Đà Lạt) .

1941 * Ngày 8-1, Toàn quyền Decoux ký Nghị định tái lập tỉnh Lang Bian.

* Kiến trúc sư J. Lagisquet thiết lập đồ án chỉnh trang và phát triển Đà Lạt.

1942 * Khởi công xây dựng nhà máy thuỷ điện Ankroet.

* Khánh thành nhà thờ Chánh Toà.

1943 * Xây dựng đường Prenn mới.

* Khánh thành nhà thờ Domaine de Marie.

1944 * Nhà máy thuỷ điện Ankroet hoạt động.

* Chuyển Trường Kiến trúc từ Hà Nội vào Đà Lạt, thành lập lớp Dự bị Đại học đầu tiên tại Đà Lạt.

* Dời Sở Địa dư Đông Dương từ Gia Định lên Đà Lạt.

1945 * Tháng 5,  Thành lập Uỷ ban Mặt trận Việt Minh Đà Lạt, Tỉnh bộ Việt Minh lâm thời  tỉnh Lâm Viên.

* Ngày 23-8, nhân dân Đà Lạt khởi nghĩa giành chính quyền.

* Ngày 24-8, thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên.

1946 * Thực dân Pháp tái chiếm Đà Lạt.

* Ngày 13-4, Ban Chấp hành Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Lâm Viên họp hội nghị tại Đá Trắng  (Ninh Thuận).

* Từ ngày 19-4 đến 13-5, Đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cộng hoà Pháp họp Hội nghị trù bị Đà Lạt.

1947 * Tháng 3, thành lập Trường miền núi Lang Biang (Ecole montagnarde du Langbian) dành cho học sinh dân tộc thiểu số bản địa.

* Mở rộng phi trường Liên Khương.

1948 Thông tuyến hàng không Hà Nội – Đà Lạt.

1949 * Xây dựng nhà máy nước gần Hồ Lớn.

* Ngày 8-3, thành lập Hoàng triều Cương thổ, Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ và Cao nguyên Trung Phần.

* Tháng 4, Thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Lâm Viên.

1950 * Chuyển Trường Võ bị ở Huế vào Đà Lạt.

* Thành lập tổ chức Phụ nữ Minh Khai.

* Tháng 6, Thị uỷ Đà Lạt xuất bản tờ Tin Đà Lạt.

* Tháng 10, Hội nghị sáp nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng tổ chức tại Ô Rô (chiến khu Lê Hồng Phong ở Bình Thuận).

* Thành lập Ban Cán sự Đảng tỉnh Lâm Đồng.

* Ngày 14-12, Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính miền Nam Trung Bộ Nguyễn Duy Trinh ký Nghị định sáp nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.

1951 * Ngày 22-2, Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng ký Nghị định hợp nhất hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành một tỉnh lấy tên là tỉnh Lâm Đồng.

Thành lập đội cảm tử Phan Như Thạch.

* Ngày 11-5, thực dân Pháp đưa 20 người bị giam tại nhà lao Đà Lạt đi xử bắn tại gần sân bay Cam Ly để trả thù việc tổ cảm tử diệt tên Haasz – Chánh  Thanh tra Mật thám Đà Lạt.

* Tháng 11, Hội nghị củng cố Thị uỷ Đà Lạt và Uỷ ban Kháng chiến Hành chính thị xã Đà Lạt.

1952 * Thành lập ấp Ánh Sáng và làng Đa Phú.

* Tháng 9, khai giảng Trường Trung học Việt Nam đầu tiên.

1953 * Ngày 1-1, thành lập Trường Quốc gia Hành chính.

* Đặt tên đường, địa danh bằng tiếng Việt.

1955 * Chính quyền Ngô Đình Diệm bãi bỏ Hoàng triều Cương thổ.

* Thành lập Uỷ ban Bảo vệ Hoà bình.

* Thành lập các ấp Thái Phiên, Phát Chi.

* Tháng 3, Thành lập Ban Cán sự Đảng Đà Lạt.

* Ngày 1-4, thành lập Nha Địa dư Quốc gia.

1956 Khai giảng Trường Nam Trung học Trần Hưng Đạo.

1957 * Đổi tên trường Quang Trung thành Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân.

* Xây dựng chợ mới Đà Lạt.

* Ngày 15-2, khai mạc Đại hội Lâm Viên.

1958 * Ngày 19-5, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh thành lập tỉnh Tuyên Đức, đô thị Đà Lạt là tỉnh lị tỉnh Tuyên Đức.

* Ngày 15-9, thành lập Thư viện Đà Lạt (nay là Thư viện tỉnh Lâm Đồng).

* Thành lập Viện Đại học Đà Lạt.

* Khánh thành Khu Du lịch thác Prenn.

* Thành lập Giáo hoàng Chủng viện Pio X.

1960 * Thành lập Nha Văn khố.

*  Khởi công xây dựng nhà thờ Cam Ly.

1962 * Khánh thành phi trường Liên Khương.

* Khánh thành chùa Linh Phong.

1963 Khánh thành Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt.

1966 * Thành lập Trường Đại học Chiến tranh Chính trị.

* Thành lập Lực lượng nhân dân, học sinh, sinh viên tranh thủ dân chủ. Nhân dân, học sinh, sinh viên chiếm Đài Phát thanh Đà Lạt và làm chủ một số khu vực.

1967 Thành lập Trường Chỉ huy Tham mưu.

1968 * Ngày 31-1, tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.

* Thị xã Đà Lạt được tặng thưởng Huân chương Thành đồng hạng hai.

1969 * Ngày 23-4, tập kích khách sạn Ngọc Lan, Trường Võ bị Đà Lạt, Trường Chiến tranh Chính trị, sân bay Cam Ly.

* Ngày 7-9, tập kích Trường Cảnh sát Dã chiến và Cảnh sát cơ bản.

1970 * Tháng 4, học sinh, sinh viên biểu tình, bãi khoá .

* Ngày 3-6, Chiến dịch TK : tập kích Trường Võ bị, Chiến tranh Chính trị, Trung tâm Vô tuyến Viễn thông, dinh Tỉnh trưởng, Tiểu đoàn Bảo an, Dinh II, trại Cao Thắng, trận địa pháo Tân Lạc,…

1971 Từ  ngày 28-9 đến 3-10, nhân dân đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, hoà bình,… biểu tình chống bầu cử độc diễn Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn.

1972 Xây dựng đập Đa Thiện III.

1973 Thành lập làng SOS.

1975 * Ngày 3-4, giải phóng Đà Lạt – Tuyên Đức.

* Ngày 4-4, thành lập Uỷ ban quân quản Đà Lạt.

* Ngày 6-4, thành lập Thành uỷ Đà Lạt.

* Ngày 14-4, mít tinh mừng Đà Lạt giải phóng.

Thành phố Đà Lạt được tặng thưởng Huân chương Thành đồng hạng nhất.

* Ngày 27-4, Đài Phát thanh Đà Lạt giải phóng phát bản tin đầu tiên.

* Ngày 15-5, Bản tin Đà Lạt ra số đầu tiên.

* Ngày 20-9, Bộ Chính trị quyết định thị xã Đà Lạt trực thuộc Trung ương.

* Ngày 14-10, Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết định chuyển Học viện Quân sự từ Hà Nội vào Đà Lạt.

* Ngày 20-12, Bộ Chính trị quyết định Đà Lạt trực thuộc Khu VI.

1976 * Ngày 14-3, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra Nghị định hợp nhất tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt thành tỉnh Lâm Đồng mới, Đà Lạt là tỉnh lị tỉnh Lâm Đồng.

* Ngày 26-4, thành lập Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt.

* Ngày 27-10, thành lập Trường Đại học Đà Lạt.

* Đổi tên 22 đường phố.

* Thành lập Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt.

* Thành lập Công ty Dược phẩm Đà Lạt.

1977 * Ngày 26 – 28-8, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ nhất.

* Bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố Đà Lạt khóa I.

* Hoàn thành công tác xóa mù chữ trên địa bàn thành phố.

* Thành lập Công ty Dược liệu, Trạm Dược liệu Cam Ly và Trạm Nghiên cứu Dược liệu.

* Ngày 19-8, Báo Lâm Đồng ra số đầu tiên.

* Ngày 2-9, Trạm phát lại truyền hình hoạt động.

1978 * Thành lập Bảo tàng Lâm Đồng, Công ty Phát hành sách Lâm  Đồng.

* Ngày 5-9, thành lập Trung tâm Nghiên cứu Khoa học tại Đà Lạt (nay là Phân viện Sinh học tại Đà Lạt).

* Tháng 11, thành lập Viện Vacxin Đà Lạt.

1979 * Ngày 14-3, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định chia một số huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng, thành phố Đà Lạt có 6 phường và 3 xã: Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trường.

* Ngày 8 – 10-6, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ II.

* Ngày 22-12, khánh thành Nghĩa trang Liệt sĩ.

* Xây dựng hồ Chiến Thắng.

1982 Thành lập Xí nghiệp Liên hiệp Dược Lâm Đồng.

1983 * Ngày 3 – 5-2, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ III.

1984 * Khánh thành Nhà máy nước Suối Vàng.

* Ngày 20-3, khôi phục và mở rộng Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt.

1985 * Nạo vét hồ Xuân Hương.

* Thành lập Trung tâm Bồi dưỡng, Đào tạo tại chức tỉnh Lâm Đồng.

* Ngày 7-11, Đài Truyền hình Lâm Đồng phát hình màu.

1986 * Ngày 6-6, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, phường, thị trấn ở Lâm Đồng, thành phố Đà Lạt có 12 phường và 3 xã : Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trường.

* Ngày 20 – 24-6, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ IV.

1987 Hoàn thành hồ Quang Trung (nay là hồ Tuyền Lâm).

1988 * Ngày 24-12, thành lập Trường Trung học  Dân tộc Nội trú.

* Hồ Xuân Hương được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

1989 * Làng SOS hoạt động lại.

* Ngày 13 – 15-3, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ V.

* Đà Lạt được xác định là một trong các hạt nhân của Tổ chức Du lịch quốc tế (thuộc chương trình VIE 89-003 của OTM).

1990 * Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục bậc tiểu học toàn thành phố.

1991 * Nâng cấp khách sạn Palace, Đồi Cù, các biệt thự đường Trần Hưng Đạo.

* Ngày 16 – 19-10, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ VI.

1992 * Thành lập Công ty Dược – Vật tư Y tế Lâm Đồng.

* Thành lập Công ty Bio-Organics Hasfarm chuyên trồng hoa xuất khẩu.

1993 * Lễ hội kỷ niệm Đà Lạt 100 năm hình thành và phát triển.

* Khánh thành sân golf 18 lỗ.

* Khởi công nâng cấp chợ Đà Lạt.

* Bến xe Trung tâm hoạt động.

1994 * Ngày 27-10, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Đề án Quy hoạch tổng thể xây dựng thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2010.

* Khánh thành Thiền viện Trúc Lâm.

1995 * Nâng cấp đường Hồ Tùng Mậu.

1996 * Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Lâm Đồng hoàn thành Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng thời kỳ 1996-2010.

* Ngày 8 – 10-4, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ VII.

* Ngày 12-8, khánh thành tháp bưu điện.

* Ngày 20-12, thành lập Trung tâm trồng, chế biến cây thuốc Đà Lạt.

1998 * Bộ Văn hoá – Thông tin ra Quyết định xếp hạng 6 thắng cảnh của thành phố Đà Lạt là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia: hồ Than Thở, hồ Tuyền Lâm, Thung lũng Tình Yêu, thác Prenn, thác Datanla, thác Cam Ly.

* Nạo vét và nâng cấp, tôn tạo di tích hồ Xuân Hương.

1999 * Thành phố Đà Lạt được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng ba.

* Ngày 24-7, thành phố Đà Lạt được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là đô thị loại II.

2000 * Thành phố Đà Lạt được Chủ tịch nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước”.

* Tháng 11, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ VIII.

* Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở toàn thành phố.

2001 Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận 2 di sản văn hóa kiến trúc
(ga Đà Lạt và Trường Cao đẳng Sư phạm).

2002 * Khởi công xây dựng công trình Cáp treo Đà Lạt.

* Ngày 27-5, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Đề án Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2020.

* Xây dựng đường Cam Ly – Suối Vàng.

* Khôi phục đường Pren cũ (đường Mimosa).

* Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định đặt tên đường mới.

2003 * Lễ hội kỷ niệm 110 năm Đà Lạt hình thành và phát triển.

* Khánh thành công viên Yersin.

* Khởi công xây dựng công trình cải tạo nâng cấp Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng.

* Khởi công cải tạo suối Cam Ly, xây dựng hệ thống thoát nước thải và nhà máy xử lý nước thải.

2004 * Hoàn thành dự án ngầm hoá đường dây trung thế.

* Nhà máy thuỷ điện Ankroёt lắp đặt 2 tổ máy mới.

* Mở thêm đường hàng không Liên Khương – Hà Nội.

* Thành lập Trường Đại học dân lập Yersin Đà Lạt.

* Lễ hội Sắc hoa Đà Lạt.

2005 * Khởi công xây dựng đường Trường Sơn Đông.

* Thành phố Đà Lạt được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì.

* Tháng 8, hoàn thành cải tạo suối Phan Đình Phùng thuộc Dự án cải thiện vệ sinh, môi  trường thành phố Đà Lạt.

* Từ ngày 19 đến ngày 23-9, Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Lạt lần thứ IX.

* Festival Hoa Đà Lạt lần thứ I.

* Tôn tạo Vườn hoa thành phố.

2006 * Lễ hội văn hóa trà.

* Tuyến xe buýt bắt đầu hoạt động.

2007 * Ngày 27-4, khai thông tỉnh lộ ĐT 723 (Đà Lạt – Nha Trang).

* Festival Hoa Đà Lạt lần thứ II.

2008 * Ngày 29-6, khánh thành đoạn đường cao tốc Liên Khương – Prenn.

* Xây dựng nâng cấp cầu Bà Triệu (Bá Hộ Chúc).

* Khởi công xây dựng nhà máy nước Dankia II.

* Khởi công xây dựng công viên Bà Huyện Thanh Quan.

* Lễ hội kỷ niệm 115 năm Đà Lạt hình thành và phát triển.

 

Người tìm ra mảnh đất Đà Lạt- Bác sĩ Yersin

Ngày nay, đứng trước phong cảnh nên thơ, những hàng thông thẳng ngọn, những hồ nước trong xanh, những ngôi nhà kiến trúc tối tân của Đà Lạt xinh đẹp, có bao giờ ta nghĩ rằng xưa kia nơi đây chỉ là một vùng đất trơ trọi hoang vu, và tự hỏi ai là người đầu tiên tìm ra miền cao nguyên thơ mộng ấy không? Tôi xin dựa theo một ít tài liệu trong mấy tờ tạp chí Pháp xuất bản ở Đông Dương trước đây, lược thuật lại cuộc đời và sự nghiệp của bác sĩ Yersin, người được coi là có công trong việc khám phá ra vùng đất Đà Lạt, để gọi là tỏ chút lòng tưởng nhớ một bậc danh nhân đã giúp cho chúng ta một nơi nghỉ mát tốt lành và tô điểm cho quê hương mình thêm đẹp thêm xinh.

1. Nơi mảnh đất sinh thành

 

Alexandre Yersin sinh ngày 22 tháng 9 năm 1863, tại miền đồng quê tổng Vaud, hạt Lavaux, nước Thụy Sĩ. Tổ tiên ông gốc người Pháp, sang định cư ở làng Rougemont (thuộc hạt Lavaux) vào thời vua nước Pháp hủy bỏ sắc luật cho phép dân chúng theo đạo Gia tô cải cách (Resvocation de l’Edit de Nantes). Sắc luật mới này do vua Louis thứ 14 ký ngày 18-10-1685. Thân phụ ông là một nhà khảo cứu Côn trùng học hữu danh, làm giáo sư dạy khoa Vạn vật học.

Thuở nhỏ, Yersin học ở tỉnh Morges. Lúc 20 tuổi (1883) ông khởi đầu thuộc thuốc ở học viện Lausanne bên cạnh hồ Léman (Thụy Sĩ). Kế tiếp ông đến học ở Marbourg (Đức), rồi sang tới Paris (Pháp). Ba năm sau ông giúp việc tại phòng thí nghiệm ở Hotel Dieu. Vào lúc đó, Pasteur đang nổi tiếng về công cuộc tìm ra thuốc trừ bệnh chó dại. Ông benfxin vào làm ở phòng thí nghiệm của Pasteur và tôn ông này như là một bậc thầy.

Năm 24 tuổi (1887), Yersin nhập quốc tịch Pháp, và trình một luận án đặc sắc về bệnh lao của giống thỏ nhà để thi bằng bác sĩ Y khoa. Sau đó, ông đến Bá Linh ở một năm theo học hỏi bác sĩ Koch, người đã nổi tiếng nhờ sự tìm ra vi trùng bệnh lao.

Năm 1888, ông trở về Pháp tiếp tục nghiên cứu ở Viện Pasteur Paris vừa mới được khánh thành. Ông được bác sĩ Roux mến tài mời cộng tác tìm thuốc chữa bệnh yết hầu. Ông ký với Roux ba bản kỷ yếu (trois mémories) quan trọng, chứng nhận rằng vi trùng Klebs-Loeffler là giống vi trùng truyền bệnh Yết hầu. Ba bản kỷ yếu đó sau này trở nên những bản làm quy tắc trong các đại học đường khoa học và chính nhờ đó mà khoa vi trùng độc chất học (Toxicologie microbienne) được tiến triển, đồng thời còn giúp ích cho sự phát minh các thứ thuốc khử độc (Antitoxines) và phòng bệnh (Sérothérapie). Chính trong thời gian này ông quen biết bác sĩ Calmette.

Bấy giờ, mới 26 tuổi đầu, danh tiếng ông đã vang lừng trong giới khoa học. Nhưng ông không vì thế mà tự mãn, lúc nào cũng chịu khó cầu tiến.

2. Bén duyên với Đà Lạt

Cuối năm 1889, ông bắt đầu sang Đông Dương, làm y sĩ cho hãng tàu Messageries Maritimes. Mỗi lần tàu cập bến Nha Trang, ông thích thú đưa mắt nhìn ngắm dãy Trường Sơn bao la hung vĩ. Trước sức hấp dẫn của cảnh trí thiên nhiên đó, ông chợt có ý định đi bộ từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù lúc đó chưa có đường xe hơi và xe lửa.

Năm 27 tuổi, vào khoảng tháng 7-1890, ông từ Nha Trang đi ngựa vào Phan Rí. Từ Phan Rí, ông nhờ một người dẫn đường lần mò vào rừng, và sau hai ngày đường khổ cực, ông tới Di Linh. Cuối cùng, ông xuống Phan Thiết, đi thuyền buồm đến Nha Trang rồi ra tới Qui Nhơn.

Vào những năm 1890-1894, các miền rừng núi dọc dãy Trường Sơn từ phía Bắc Nam kỳ đến phía Nam Trung kỳ và Hạ Lào hãy còn là những vùng bí hiểm, chưa được khai khẩn, ngoài một ít bộ lạc thiểu số, chưa ai đặt chân đến vùng đất hoang vu ấy. Vậy mà một người ngoại quốc như bác sĩ Yersin, đơn thân độc mã không kẻ tùy tùng, dám dấn thân vào miền rừng sâu nước độc, bất chấp cả dã thú và sự giết người của thổ dân, thì thật là có gan mạo hiểm phi thường.

Trong cuộc thám hiểm miền Dran vào năm 1893, ông bị bọn cướp chém đứt nửa ngón tay cái trái và bị đâm nhiều nhát dao găm vào ngực đến ngất ngư. Theo hồi ký của ông, bọn cướp này do tên Thouk cầm đầu, vốn là những tên tù chính trị ở Bình Thuận, sau khi thất bại trong việc mưu toàn đánh chiếm tỉnh lỵ này mới trốn vào miền rừng núi. Mặc dù trong lần thám hiểm mày có ba người Việt Nam tháp tùng ông với ba cây súng trường và một cây súng lục, ông vẫn bị chúng tước khí giới, ba người tùy tùng đều bỏ chạy, một mình ông đành chịu trận bán sống bán chết kháng cự với bọn cướp. Theo lời khai của viên đầu đảng sau khi nhà cầm quyền bắt thì nếu mấy tên kia gan dạ hơn một chút, chúng đã cắt cổ ông xong rồi.

Sau khi thoát nạn, nửa đêm ông nhờ người ta võng về Phan Rang. Dọc đường lại rơi vào giữa đàn voi. Mấy người cõng ông hoảng sợ bỏ chạy trốn hết, còn ông một mình bơ vơ giữa rừng. Ông kiệt sức, không hoạt động gì được, đành nằm chờ chết. Nhưng may đàn voi rẽ đi đường khác, không chà đạp thân thể ông. Dù bị thương nặng, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, ông vẫn không từ bỏ lòng say mê thám hiểm.

Đi đến đâu ông cũng ghi chép địa thế từ dòng sông, từ con suối, ông còn nhận xét về phong tục, về giá trị kinh tế của từng miền. Ông không là nhà du lịch đi ngắm cảnh đẹp thiên nhiên như một khách nhàn du; ông chính là một nhà thám hiểm say mê tìm cái lạ, học cái hay để mở mang kiến thức và mưu ích cho con người.

Sau ba cuộc thám hiểm liên tiếp, bác sĩ Yersin tìm ra Cao nguyên Lâm Viên. Ngày 21-6-1893, đứng trước phong cảnh hung vĩ ở độ cao cách mặt biển 1.500 thước, ông bày tỏ cảm nghĩ của mình như sau: “Cảm tưởng của tôi rất sâu xa khi vượt khỏi rừng thông; tôi đối diện với một cao nguyên mênh mông, không cây cối và hoang vu, có dáng như một vùng biển xao động mãnh liệt bởi một loạt sóng cồn ba động màu xanh biếc. Dãy núi Lâm Viên đứng sừng sững ở phía chân trời tây bắc cao nguyên, làm cho phong cảnh tăng thêm vẻ đẹp và nổi bật trên một hậu cảnh mỹ lệ”.

(Tôi cảm thấy chưa dịch được hết ý mấy câu văn đặc sắc của tác giả, nên xin chép lại nguyên văn của ông: Mon impression a été profon de lorsque, débouchant de la forêt de pins, je me suis trouvé en face de ce vaste plateau dénudé et dé sert, don’t l’apparence rappelait celle d’une mer boulever sesee par une houle esnorme d’ondulations vertes. Le massif du Lang-bian se dressant à l’horizon nord-ouest du plateau, accentuait la beauté du site en lui donnant du relief et en lui formant un arrièreplan splendide).

Theo hồi ký ông viết, lúc ông đặt chân đến vùng này, thì ở đây chỉ có rải rác vài làng của thổ dân người Lát tụ họp dưới chân núi, dân cư thật là thưa thớt.

Vì nhận thấy vùng đất này khí hậu tốt lành và phong cảnh xinh đẹp, bác sĩ Yersin đề nghị cùng Toàn quyền Paul Doumer nên lập một thành phố tại đây để làm nơi nghỉ mát và dưỡng bệnh. Đề án đó được chấp nhận, và sau khi phái hai đoàn thám hiểm vào năm 1897 và 1898 lên quan sát tại chỗ, Toàn quyền Pháp cho khởi công xây dựng Sở Khí tượng và căn cứ thí nghiệm trồng trọt, lại mở một con đường chạy dài từ miền duyên hải Trung kỳ lên tận miền sơn cước. Thành phố Đà Lạt bắt đầu khai sinh từ đấy.

Nhờ ở vị trí cao lại không xa bờ bể là mấy nên quanh năm khí hậu ở Đà Lạt mát mẻ, thời tiết không thay đổi, trung bình là 18 độ. Từ năm 1933, sau khi quốc lộ số 20 dài 300 cây số được hoàn thành, bao nhiêu du khách ở đồng bằng miền Nam đều có thể dùng xe hơi đến viếng Đà Lạt một cách dễ dàng để nghỉ mát trong những ngày nóng bức.

Người có công tìm cho chúng ta một nơi nghỉ mát nên thơ đó chính là bác sĩ Yersin.

Đến năm 31 tuổi (1894), bác sĩ Yersin dẫn theo mười lăm người lính tập từ phía Nam đi lần lên tỉnh Đăk Lăk và Kon Tum, vào các xóm người dân tộc thiểu số phía bắc dãy núi Lâm Viên.

3. Nghiên cứu bệnh dịch hạch

Lần đi thám hiểm cuối cùng này về, ông nghe tin bệnh dịch hạch đang phát hiện ở Vân Nam, gần biên giới Việt Hoa, làm chết ngót sau mươi ngàn người ở miền Nam Trung Quốc. Ông liền xin Chính phủ đến tại nơi quan sát bệnh tình về phương diện “vi trùng”. Đang lúc ấy bệnh dịch hạch lại lan tràn sang Hồng Kông. Ông quay lại đáp tàu ra Hải Phòng đi Hồng Kông. Thế rồi 48 giờ sau, ông đặt chân đến Hồng Kông, thuê người cất một căn nhà bằng tre lợp tranh dùng để làm phòng thí nghiệm. Ông mua mấy xác chết về mổ xẻ, lấy vi trùng trong các hạch người chết, cấy vào giống chuột bạch và chuột Ấn Độ, thì nhận thấy các con chuột này cũng chết vì dịch hạch. Ông bèn kết luận: Bệnh dịch hạch của người ta giống y như bệnh dịch hạch của loài chuột.

Sau đó ông gởi loại vi trùng dịch hạch về Paris cho các bác sĩ thí nghiệm. Họ cũng đồng một ý kiến với ông là thứ vi trùng ấy chính là căn nguyên bệnh dịch hạch.

Đến năm 1895, ông lập viện Pasteur ở Nha Trang, rồi trở về Pháp, cùng với hai bác sĩ Calmette và Roux kiếm thuốc ngừa bệnh dịch hạch; năm sau ông trở lại Viễn Đông, mang theo thuốc ngừa dịch hạch vừa tìm ra.

Bấy giờ bệnh dịch hạch lại tràn sang Quảng Châu và Hạ Môn. Ông bèn đến tận nơi, thử dung thứ thuốc mới trị bệnh, ông cứu sống được một số người, đủ chứng tỏ là thuốc do nhóm ông tìm ra rất hiệu nghiệm.

4. Vĩ thanh

Sau đó ông trở lại Việt Nam, làm việc ở viện Pasteur Nha Trang cho đến ngày từ giã cõi trần, ngoại trừ mấy năm (1902-1904) ông lo mở trường Cao đẳng Y khoa ở Hà Nội và về Pháp mấy lần thăm bác sĩ Roux.

Từ năm 1905-1918, ông làm Giám đốc hai viện Pasteur Sài Gòn và Nha Trang. Năm 1925, ông làm Tổng Thanh tra các viện Pasteur ở Đông Pháp.

Từ ngày lập viện Pasteur Nha Trang, ông chuyên môn quan sát các bệnh của súc vật và tìm ra được thứ thuốc chữa và phòng bệnh trâu bò. Ông lại cùng với các người giúp việc quan sát các chứng bệnh khác như Barbone, Sura và Piroplasmose.

Ngoài việc nghiên cứu về Y học, bác sĩ Yersin còn là một nhà trồng tỉa, một nông học gia nổi danh. Ông lập ra vườn trồng cây để thí nghiệm những giống cây vùng nhiệt đới. Các loại cây như Guttapercha, Coca, Cacao, cây cọ Phi châu và nhất là cây cao su lấy giống ở Mã Lai đề được ông trồng có kết quả rất tốt tại đồn điền Suối Dầu. Năm 1918, ông lại thử trồng cây Quinquina trên đảo Hòn Bà, nhưng kết quả không tốt vì đất cứng và khí hậu không hợp như ở Suối Dầu. Ông lại đi tìm những vùng đất màu tốt và khí hậu thích hợp ở Dran, Diom, Di Linh. Từ đó về sau, người nước ta khỏi mua chất Quinine ở nước ngoài về làm thuốc, ấy là nhờ công lao hai mươi lăm năm chịu khó ươm giống, thử đất, trồng cây của bác sĩ Yersin.

Lúc làm việc tại Nha Trang, ông sống rất giản dị thanh bạch, mặc dù ông có thừa phương tiện để hưởng thụ cuộc đời phù phiếm xa hoa. Ông ở trong một tòa nhà vuông, cao, có hai tầng. Nhà được cất trên nền cái đồi thứ nhất dựng ở Nha Trang, tại cửa sông, đối diện với di tích Chàm Po Nagar, dưới thấp chung quanh là những căn nhà lụp xụp của dân chài lưới. Bốn mặt nhà đều có hành lang chạy vòng quanh, đứng ở dấy có thể phóng mắt nhìn ra bốn phương trời, núi non hiện ra trước mặt thật bát ngát hung vĩ. Quanh nhà, các loại bìm bìm, bông bụp lục và đỏ, hồng và tím mọc đầy, không hề có một vườn rau, hoa trái, hay cây cảnh dùng trang hoàng cho ngôi nhà của ông thêm đẹp mắt.

Bác sĩ Yersin là một người sống rất bình dân, thường chỉ mặc bộ ka ki màu vàng, và dù đã 80 tuổi rồi mà sáng nào ông cũng cưỡi xe đạp tới viện Pasteur. Ông lại có lòng nhân ái, hay dùng thời giờ rỗi rảnh dạy dỗ mở mang thêm cho những người dân chài lưới chất phác ở miền ông cư trú. Ông thương cả đến loài cầm thú, chim muông và mỗi khi gọi con vật nào cũng lót hai chữ “người ta” ở trước: người ta chó, người ta mèo, người ta két…

Ngày 1-3-1943, bác sĩ Yersin mất tại Nha Trang, hưởng thọ 80 tuổi.

Thi hài ông được an táng trên một khoảnh đồi ở khu đồn điền Suối Dầu, bên cạnh những cây cao su thẳng ngọn lên trời xanh. Đây chính là nơi ông đã khai khẩn trồng trọt rộng ngót năm trăm mẫu đất, và di sản này ông tặng cho viện Pasteur Nha Trang. Theo di chúc của ông, đám tang diễn ra cực kỳ giản dị, chẳng có một bài điếu văn nào, nhưng mọi người tiễn đưa ông về ba tấc đất ai cũng ngậm ngùi mến tiếc sự ra đi vĩnh viễn của một bậc vĩ nhân.