Lăng Thoại Ngọc Hầu

Vị trí: Lăng Thoại Ngọc Hầu thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Lăng Thoại Ngọc Hầu là một trong số nhiều di tích ở chân núi Sam. Tại đây có đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu, mộ ông cùng hai phu nhân được xây vào thập niên 30 của thế kỷ 20.
Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại, một danh tướng nổi tiếng của triều Nguyễn. Ông sinh ngày 25/11/1761 tại Diên Phước, tỉnh Quảng Nam , được phong tước Ngọc Hầu. Ông mất ngày 06/6/1829.

Khung cảnh uy nghiêm của lăng Thoại Ngọc Hầu gợi cho du khách những hoài cảm về người xưa, về công đức của những bậc tiền bối, gây ấn tượng sâu xa, luyến tiếc cho những gì không thể tìm lại được của quá khứ.

Phía trước lăng là khoảng sân rộng. Hai bà vợ của ông được chôn cất tại đây. Bà Nhất phẩm Châu Vĩnh Tế chôn phía tay phải, bà Nhị phẩm Trương Thị Miệt chôn phía tay trái, mộ ông nằm chính giữa. Trong Long Đình là bản sao bia “Thoại Sơn”, bia “Vĩnh Tế Sơn”. Trước Long Đình là hai con nai đắp bằng xi măng. Hai cửa lớn vào lăng rộng, hình bán nguyệt, kiến trúc theo lối cổ, liền với bức tường kiên cố dày 1m, cao 3m. Sau lăng là đền thờ trên nền cao hơn. Sau lưng đền thờ là sườn núi Sam tạo thành thế vững chắc kiên cố, tôn lên nét cổ kính uy nghi. Vào lăng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng tượng Thoại Ngọc Hầu cao khoảng hai mét cùng những áng văn chương lộng lẫy, với liễn đối, hoành phi, văn bia, văn tế… gợi lại hình ảnh nước non một thời oanh liệt.

Thoại Ngọc Hầu được triều đình nhà Nguyễn phong tước hầu cử vào khai phá trấn giữ An Giang. Ông đã tập hợp lưu dân hai tỉnh Quảng Nam – Quảng Ngãi về ở các vùng Ông Chưởng (Chợ Mới), Núi Sập (Thoại Sơn), Châu Đốc, Long Xuyên… Ông là người tổ chức đào kênh Thoại Hà (con kênh có bề ngang 20 tầm – chừng 51m, dài 31.744m) và kênh Vĩnh Tế dài hơn 90km. Đào hai con kênh ấy trong thời kỳ công cụ lao động thô sơ và bằng tay, chân quả là việc làm thần kỳ. Sau khi hoàn tất việc đào kênh, Thoại Ngọc Hầu cho vẽ bản đồ trình triều đình Huế, được vua khen ngợi ban sắc chỉ cho lấy tên người mà đặt cho tên kênh là Thoại Hà (kênh Thoại) và lấy tên vợ chính của ông là Vĩnh Tế đặt cho kênh Vĩnh Tế. Để đánh dấu những công trình này, Thoại Ngọc Hầu cho dựng bia làm kỷ niệm: bia Thoại Sơn, Vĩnh Tế Sơn. Đồng thời trước ngày dựng bia, Ông cho nhiều toán người đi dọc hai bờ kênh, từ Châu Đốc đến Hà Tiên tìm hài cốt những dân binh tử nạn mang về cải táng hai bên tả và hữu khuôn lăng. Trong buổi lễ long trọng dựng bia kỷ niệm có đọc bài “Tế nghĩa trũng văn”, do Thoại Ngọc Hầu đứng ra chủ lễ. “Nghĩa trũng văn” là bài thơ tế cô hồn tử sĩ, khắc ghi công lao và sự thương tiếc đối với binh sĩ, sưu dân đã bỏ mình trong công cuộc đào kênh…
Du khách có dịp đến Thất Sơn – An Giang nhớ đến viếng thăm lăng mộ Thoại Ngọc Hầu, ngắm dòng kênh Vĩnh Tế xanh biếc hiền hòa.

Lăng Thoại Ngọc Hầu là một trong những khu di tích lịch sử ở dưới chân núi Sam (Châu Đốc – An Giang). Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo và đẹp nhất ở ngọn núi này. Thoại Ngọc Hầu là 1 danh tướng nổi danh của triều Nguyễn, ông tên thật là Nguyễn Văn Thoại sinh ngày 25-11 năm Tân T� (1761) tại Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, được phong tước Ngọc Hầu nên thường gọi là Thoại Ngọc Hầu. Ông mất ngày 6 tháng 6 năm Kỷ Sửu (1829).

Sau khi trực tiếp xây dựng xong khu lăng miếu của chính mình và hai phu nhân, ông chỉ huy đào kinh Thoại Hà, kinh Vĩnh Tế, mở đường từ Châu Đốc đi núi Sam, Châu Đốc đi Lò Gò và Sóc Trăng. Ông có công lớn trong việc mở mang khai phá nhiều vùng đất phía tây nam Tổ quốc.

Toàn bộ khu lăng tẩm kết thành một khối kiến trúc hài hòa, lăng được bao bọc bằng một bức tường thành vách đúc dày dặn. Khu tịch rộng thênh thang với các bậc thang được xây bằng đá ong.

Cổng vào lăng có vòm cong hình bán nguyệt, hai bên trụ có chạm khắc câu đối. Khu chính giữa gồm lăng mộ và đền thờ, mộ Thoại Ngọc Hầu nằm giữa, bên phải là mộ của bà chính thất Châu Thị Tế, bên trái hơi lùi lại một chút là một bà thứ thất Trương Thị Kiệt. Bên phải khu mộ Thoại Ngọc Hầu và 2 vị phu nhân là những ngôi mộ vô danh phần nhiều hình bầu dục, còn lại hình voi phục, hình tráo đào. Theo lời của một số bô lão thì đây là mộ những dân công đã chết khi theo Thoại Ngọc Hầu khai hoang lập ấp đào kinh Vĩnh Tế. Sau khi bước qua cổng chính đồ sộ, bạn sẽ thấy trong ngôi tiền sảnh còn lưu tấm bia “Bia Thoại Sơn” khắc 629 chữ do chính Thoại Ngọc Hầu dựng 1821. Bia Thoại Sơn là một áng văn hay, một tác phẩm nghệ thuật độc đáo và còn là di tích lịch sử nổi tiếng. Ngoài ra, sau phần mộ của Thoại Ngọc Hầu có tấm bia “Vĩnh Tế Sơn” khắc 730 chữ được dựng từ 1828 sau khi đào xong kinh Vĩnh Tế 4 năm. Bia này cao quá đầu người, làm bằng đá sa thạch.

Lăng Thoại Ngọc Hầu được hoàn thành vào cuối những năm 20 của thế kỷ 19. Trải bao năm tháng, lăng vẫn còn nguyên nét uy nghi diễm lệ, khu lăng mang nhiều ý nghĩa lịch sử và giá trị văn hóa nghệ thuật, một công trình kiến trúc đạt tới đỉnh cao của dân tộc ta.

Thoại Ngọc Hầu là một danh tướng nổi danh của triều Nguyễn, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, sinh ngày 25-11 năm Tân Tỵ (1761) tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, được phong tước ngọc hầu nên thường gọi là Thoại Ngọc Hầụ Ông mất ngày 6-6 năm Kỷ Sửu (1829). Sau khi trực tiếp xây dựng xong khu lăng miếu của chính mình và hai vị phu nhân, ông cho qui tụ hài cốt những người có công đào kinh Vĩnh Tế, khai hoang lập ấp về đây chôn chung trong lăng.

Lăng được bao bọc bằng một bức tường thành vách đúc dày dặn. Khu tịch rộng thênh thang với các bậc thang được xây bằng đá ong.

Lăng Thoại Ngọc Hầu

Cổng vào lăng có vòm cong hình bán nguyệt, hai bên trụ có chạm khắc câu đối, phía trong lăng là một khu đất bằng phẳng. Mộ Thoại Ngọc Hầu nằm chính giữa, bên phải là mộ của bà chính thất Châu Thị Tế, bên trái hơi lùi lại một chút là mộ bà thứ thất Trương Thị Kiệt. Bên phải khu mộ Thoại Ngọc Hầu và hai vị phu nhân là những ngôi mộ được xây thành một nhóm riêng biệt, phần nhiều là hình bầu dục, còn lại là hình voi phục, hình trái đàọ Theo lời một vài bô lão trong làng, thì đây là nơi cải táng những dân công đã chết trong khi theo Thoại Ngọc Hậu khai hoang lập ấp và đào kinh Vĩnh Tế.
Thoại Ngọc Hầu có công khai phá vùng biên giới hoang vu và xây dựng nhiều công trình có giá trị cao: hai kinh Vĩnh Tế và Thoại Hà. Lập các làng ở Thoại Sơn và hai bên bờ kinhVĩnh Tế. Mở đường Châu Đốc đi núi Sam. Con kinh thứ nhất ăn thông từ Long Xuyên qua Rạch Giá được triều đình nhà Nguyễn đặt tên là Thoại Hà và núi bên cạnh kinh là núi Thoại Sơn (lấy tên của Nguyễn Văn Thoại). Con kinh thứ nhì quan trọng hơn nữa, đó là con kinh chạy dài từ Châu Đốc đến Hà Tiên, dọc theo biên giới Miên Việt. Kinh này được vua Minh Mạng đặt tên là Vĩnh Tế Hà, và phần núi Sam bên cạnh kinh này được đặt tên là Vĩnh Tế Sơn (Vĩnh Tế là danh xưng của Nhất Phẩm phu nhân của Bảo Hộ Thoại).
Thoại Ngọc Hầu có nhiều công đối với triều đình nhà Nguyễn và nhất là có nhiều công ơn đối với người dân Miền Nam . Gốc người Quảng Nam, theo Gia Long đánh Tây Sơn, đi công cán bên Xiêm, bên Miên và Lào, giử nhiều chức vụ quan trọng như Chưởng Cơ Bắc Thành, Trấn Thủ Lạng Sơn, Trấn Thủ Định Tường, Bảo Hộ Cao Miên, Trấn Thủ Vĩnh Thanh, Khâm Sai Thống Chế án thủ Châu Đốc, v v. . . Nhưng công tác được người đời nhớ nhiều nhất là công việc khẩn hoang và đào kinh. Ông bảo :
“Thần thụ mệnh vua, siêng năng kính cẩn, nhóm dân lập ấp, tuỳ xem địa thế: một đường ngang song song ra đến trường giang, một đường thẳng lên Sốc Vinh, một đường ngay đến Lò Gò. Vổ về dân sự, mở mang thôn ấp, khai khẩn ruộng vườn, tuy trong muôn phần chưa thoả mãn được một, nhưng đem nay mà sánh xưa, thì đã khác lạ lắm.”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s