Nông Trường Sông Hậu

Nông trường Sông Hậu, tên tiếng Anh là Sohafarm, nay gọi là Công ty Nông nghiệp Sông Hậu, có trụ sở tại xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Nông trường có văn phòng đại diện tại số 849, Lê Hồng Phong nối dài, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là một trung tâm sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn mà còn là một khu du lịch sinh thái khá hấp dẫn của thành phố Cần Thơ.

Lịch sử

Nông trường Sông Hậu được thành lập từ tháng 04-1979 theo Quyết định số 33/QĐ-UBT của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang, với diện tích tự nhiên là 3.450 ha (tiền thân là Nông trường Quyết Thắng cắt ra 50%). Ông Trần Ngọc Hoằng – một cựu chiến binh – là người có công khai mở Nông trường. Thời điểm đầu, nông trường chỉ có 16 người, 3.450 ha đất, 10 chiếc máy kéo và 50.000 đồng. Đến năm 1984, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang ra Quyết định số 47/QĐ-UBT sát nhập thêm 50% phần diện tích còn lại của Nông trường Quyết Thắng, đưa tổng diện tích của Nông trường Sông Hậu lên 6.981,5 ha. Sau này, Nông trường Sông Hậu bàn giao một phần diện tích cho Thới Lai và một phần diện tích xây dựng Đài Việt Nam 2, nên diện tích hiện nay chỉ còn 6.924,78 ha.

Từ một vùng đất hoang hoá, ngập nước, mỗi năm chỉ sản xuất 1 vụ lúa mùa; sau 10 năm xây dựng, Nông trường đã hoàn thành việc cải tạo đồng ruộng, cơ bản xác lập và xây dựng công trình thủy lợi với hệ thống bờ bao phục vụ tưới tiêu, kết hợp xây dựng hệ thống giao thông nội bộ hoàn chỉnh. Thực hiện cơ giới hoá gần như toàn bộ các khâu trong sản xuất nông nghiệp. Chuyển đổi 100% diện tích lúa mùa nổi một vụ thành đất trồng lúa 2 vụ, đồng thời mở ra một hướng mới trong trong sản xuất là kết hợp mô hình canh tác lúa – nuôi trồng thủy sản.

Năm 1992, Nông trường chính thức được phép xuất nhập khẩu trực tiếp và được thành lập doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định số 1106/QĐ-UBTcủa Ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ. Ngày 20-05-1996, Nông trường được bổ sung chức năng xuất nhập khẩu tổng hợp và chuyển đổi từ loại hình sản xuất sang loại hình sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp. Tháng 03-2000, bà Trần Ngọc Sương được bổ nhiệm làm giám đốc Nông trường thay cho ông Trần Ngọc Hoằng. Hoạt động sản xuất kinh doanh của Nông trường ngày càng mở rộng, xuất hiện thêm một số ngành nghề mới như sản xuất, kinh doanh gỗ nguyên liệu, bao bì giấy, nước trái cây, gốm sứ, hàng may mặc. Nông trường đã xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư máy móc thiết bị phát triển công nghiệp hoá chế biến nông sản vùng nông thôn: như 10 phân xưởng chế biến lương thực, 4 phân xưởng chế biến và đóng hộp nông sản, 1 nhà máy chế biến thuỷ hải sản, 1 nhà máy chế biến gỗ… và đã thành công trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu, với đa phần các sản phẩm nông lâm thủy sản xuất khẩu được bạn hàng quốc tế tín nhiệm. Thị trường xuất khẩu của Nông trường được mở rộng sang nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới như: xuất khẩu gạo sang các nước trong khối ASEAN, Trung Đông, châu Phi, châu Mỹ; xuất khẩu thực phẩm đông lạnh cho Nhật, Mỹ và khối EU; xuất khẩu lâm sản chế biến cho một số quốc gia ở châu Âu, châu Mỹ và Australia. Nông trường cũng đã đầu tư hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng xã hội bao gồm: mạng lưới điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, nhà văn hoá….phục vụ đời sống của hơn 3.000 hộ dân trong Nông trường.

Thành tích

– Nông trường được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động lần thứ I vào năm 1985, lần thứ 2 năm 1999.
– Nông trường đạt chuẩn quản lý theo hệ thống chất lượng HACCP từ năm 2002 và ISO 9001:2000 từ năm 2003.

– Cá nhân giám đốc Trần Ngọc Hoằng đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động năm 1993.

– Cá nhân giám đốc Trần Ngọc Sương đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới và được tặng các huân chương Lao động hạng nhất, nhì, ba trong các năm 1990, 1995, 1999.

– Năm 2002, bà Trần Ngọc Sương được công nhận là “ Người phụ nữ ấn tượng” trong lĩnh vực kinh doanh ở vòng chung kết giải “Người phụ nữ ấn tượng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương năm 2002” được tổ chức trang trọng theo thể thức quốc tế tại Singapore.

Các lĩnh vực kinh doanh

– Sản xuất giống và thực phẩm nguyên liệu

+ Cây trồng: giống lúa, giống cây ăn trái, giống cây lâm nghiệp các loại; sản xuất gạo xuất khẩu, gạo thơm, xoài cát Hoà Lộc, bưởi Năm Roi

+ Vật nuôi: giống bò thịt, bò sữa, giống heo, gieo tinh bò, heo; sản xuất sữa tươi, bò thịt, heo thịt

+ Thủy sản: giống cá, tôm, ba ba; sản xuất cá tôm, thịt các loại

– Chế biến: 16 nhà máy, phân xưởng chế biến các loại

+ Nông sản: sấy, đông lạnh, đóng hộp

+ Thủy sản: mực, tôm, cá đông lạnh

+ Sữa thanh trùng

– Gỗ rừng trồng, đồ gỗ gia dụng, đồ gỗ ngoài trời

– Sản xuất kinh doanh gỗ nguyên liệu, bao bì carton

– Sản xuất kinh doanh nước trái cây, nước tinh khiết, cà phê, rượu

– Sản xuất kinh doanh hàng may mặc, giày và mũ nón

– Sản xuất kinh doanh hàng gốm sứ

– Sản xuất hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ

– Vận chuyển hàng hoá đường bộ

– Thi công các công trình xây dựng, thủy lợi và công nghiệp

– Xuất nhập khẩu hàng nông thủy hải sản, vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng

Vụ án Nông trường Sông Hậu


– Năm 2005, thành ủy Cần Thơ có chủ trương quy hoạch khu đô thị mới rộng 20.000 ha, trong đó toàn bộ diện tích Nông trường Sông Hậu nằm trong quy hoạch này.

– Ngày 10-04-2006, Đoàn thanh tra liên ngành do một Phó Chánh thanh tra thành phố Cần Thơ dẫn đầu đã thanh tra hoạt động tài chính tại Nông trường Sông Hậu.

– Ngày 25-10-2007, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ Phạm Thanh Vận đã chủ trì buổi làm việc với Giám đốc Nông trường Sông Hậu Trần Ngọc Sương. Tại buổi làm việc, ông Vận được báo chí trích băng ghi âm cho biết Thành ủy Cần Thơ đang cân nhắc việc chuyển đổi toàn bộ đất đai của Nông trường Sông Hậu và Nông trường Cờ Đỏ thành khu đô thị mới Nam Sông Hậu. Truyền thông trong nước còn nhấn mạnh việc ông Vận yêu cầu bà Sương nghỉ hưu để được “hạ cánh an toàn”. Tuy nhiên, bà Sương không đồng tình.

– Ngày 18-03-2008, thường trực Thành ủy Cần Thơ tổ chức cuộc họp để nghe báo cáo xin ý kiến chuyển một số nội dung kết luận thanh tra Nông trường Sông Hậu sang cơ quan điều tra. Ngày 20-03-2008, Văn phòng Thành ủy Cần Thơ có Thông báo kết luận của ông Phạm Thanh Vận – Phó Bí thư thường trực Thành ủy yêu cầu “Trước mắt khởi tố vụ án về tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng”.

– Ngày 25-03-2008, Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ có công văn chỉ đạo Công an thành phố “trước mắt khởi tố vụ án về tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng”.

– Ngày 10-04-2008, Sở nội vụ thành phố Cần Thơ ra quyết định cho bà Trần Ngọc Sương – giám đốc Nông trường Sông Hậu – nghỉ hưu theo chế độ.

– Ngày 14-04-2008, Công an thành phố Cần Thơ họp báo công bố quyết định số 40, do Đại tá Lê Việt Hùng, Phó giám đốc Sở công an thành phố Cần Thơ ký ngày 09-04-2008, khởi tố vụ án hình sự “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” xảy ra ở Nông trường Sông Hậu.

– Ngày 08-05-2008, ông Võ Văn Kiệt – Cố thủ tướng Việt Nam – có viết thư gởi Thành ủy Cần Thơ bày tỏ ý kiến về vụ án Nông trường Sông Hậu. Bức thư viết: “Trong chuyến đi công tác vừa rồi về thăm Cần Thơ, tôi có nghe tin Thủ trưởng cơ quan điều tra Công an Thành phố Cần Thơ quyết định khởi tố vụ án hình sự cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại Nông trường Sông Hậu. Tìm hiểu thêm, tôi được biết cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án xuất phát từ Thông báo kết luận của Phó bí thư Thường trực Thành ủy tại cuộc họp ngày 18-03-2008, trong đó có chỉ đạo trực tiếp việc khởi tố vụ án, đồng thời cũng nêu rõ tội danh làm cơ sở khởi tố. Tôi không lầm thì thông thường việc này phải do cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát tiến hành. Tôi không rõ có những lý do gì bên trong để các đồng chí giải thích cho việc này: Cơ quan Đảng chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố vụ án. Đồng thời nhắc lại để biết là nông trường Sông Hậu và Ba Sương đã có những đóng góp không nhỏ cho nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Cần Thơ, Hậu Giang và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, những sai phạm nếu có thì cũng nên giải quyết có tình có lý. Tôi cũng được nghe phản ảnh việc Thành ủy, Ủy ban Nhân dân chủ trương thu hồi 4.000 ha đất của Nông trường Sông Hậu và 1.000 ha đất của nông trường Cờ Đỏ để quy hoạch xây dựng khu công nghiệp. Tôi hoàn toàn không tán thành chủ trương này vì xét về hiệu quả kinh tế: Đây là vùng lúa năng suất rất cao, hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp đã được đầu tư bài bản, hoàn chỉnh, bên cạnh đó vùng này là vùng trũng, do vậy nếu làm Khu công nghiệp sẽ rất tốn kém trong viẹc san nền đảm bảo không ngập trong mùa nước nổi… Thêm vào đó, thành phố cần Thơ và tỉnh Hậu Giang chưa phải đã hết đất cho khu công nghiệp cặp hai bên bờ sông Hậu. Dịp vừa rồi về dự lễ nên không có điều kiện hỏi các đồng chí những vấn đề trên. Tôi muốn các đông chí cho biết những thông tin đầy đủ liên quan đến các vụ việc trên”.

– Từ ngày 11 đến ngày 15-08-2009, Toà án huyện Cờ Đỏ mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án “Lập quỹ trái phép” tại Nông trường Sông Hậu. Theo cáo trạng, trong thời gian từ 2003 – 2007, giám đốc và phó giám đốc Nông trường đã lợi dụng chức vụ lập quỹ đen từ nhiều nguồn thu trong hoạt động của nông trường. Tổng số tiền lập quỹ trái phép là hơn 9,183 tỷ đồng và đã chi hết. Theo kết luận của giám định tài chính, trong các khoản chi có 3,3 tỷ đồng là chi hợp lý, nên chỉ gây thiệt hại hơn 5,3 tỷ đồng. Kết thúc phiên toà, Hội đồng xét xử tuyên án bà Trần Ngọc Sương chịu 8 năm tù giam và phải bồi thường hơn 4,3 tỷ đồng.

– Ngày 19-08-2009, bà Trần Ngọc Sương có bản kháng cáo gửi lên Tòa phúc thẩm, Toà án Nhân dân thành phố Cần Thơ. Ngày 29-08-2009, bà Sương gửi bản kháng cáo bổ sung lần 1, và ngày 24-10 gửi bản kháng cáo bổ sung lần 2. Trong nội dung kháng cáo bổ sung lần 2, bà Sương đề nghị tòa phúc thẩm hủy bỏ Quyết định số 01/2009/HSST.QĐ của Tòa án nhân dân(TAND) huyện Cờ Đỏ. TAND  huyện Cờ Đỏ đã vi phạm một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng không đúng quy định tại điều 104, Bộ luật tố tụng hình sự, đặc biệt các vấn đề trong công tác giám định, thu thập chứng cứ, trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm…cần phải được xem xét một cách đầy đủ và khách quan. Việc áp dụng Điều 195 Bộ luật tố tụng hình sự của Hội đồng xét xử TAND huyện Cờ Đỏ để ban hành Quyết định yêu cầu khởi tố vụ án hình sự cũng không bảo đảm tính hợp pháp.

– Sáng 19-11, sau 2 lần tạm hoãn, TAND thành phố Cần Thơ đã mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án “Lập quỹ trái phép” ở Nông trường Sông Hậu. Kết thúc phiên phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã bác tất cả các vấn đề mà các luật sư cũng như bị cáo Sương nêu ra để quyết định y án sơ thẩm 8 năm tù đối với bị cáo Sương, buộc bị cáo phải nộp trả cho Nông trường Sông Hậu hơn 4,3 tỷ đồng.

– Ngày 23-11-2009, bà Trần Ngọc Sương đã chính thức gửi đơn khiếu nại lên Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao để xin xem xét lại toàn bộ vụ án hình sự tại Nông trường sông Hậu theo trình tự giám đốc thẩm.

– Ngày 27-11-2009, Luật sư Nguyễn Trường Thành – Luật sư bào chữa cho bà Sương – đã gởi đơn lên Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Toà hình sự toà án Nhân dân tối cao, Vụ 3 Viện kiểm sát Nhân dân tối cao đề nghị giám đốc thẩm vụ án “Lập quỹ trái phép” tại Nông trường Sông Hậu. Chiều cùng ngày, Viện kiểm sát Nhân dân huyện Cờ Đỏ công bố quyết định số 01/KSĐT do Viện trưởng Phạm Văn Uyên ký ngày 18-09-2009, khởi tố bà Sương thêm tội Tham ô tài sản ngoài tội Lập quỹ trái phép.

Vụ án Nông trường Sông Hậu đã chia rẽ dư luận trong nước suốt một thời gian dài. Điều hiếm thấy là 110 nông trường viên ở Nông trường Sông Hậu đã cùng ký đơn xin được đi tù thay cho nguyên giám đốc của họ. Truyền thông trong nước từng có thời đăng tải những thôn tin mang tính kết tội bà Sương khi toà án chưa xét xử. Sau đó, hầu hết các tờ báo lại quay sang bênh vực bà. Trong khi quan điểm chính thống vẫn khẳng định “sẽ xem xét đúng người đúng tội” thì báo chí Việt Nam lại đăng tải nhiều ý kiến ủng hộ bà Sương, yêu cầu xem xét nhân thân và đóng góp. Trên các trang mạng không chính thức cũng đang có tranh cãi về “động lực thực sự” nằm sau vụ án này, như vấn đề đất đai hay đấu tranh phe nhóm. Ông Dương Trung Quốc – một Đại biểu nổi tiếng là có những tiếng nói sắc sảo trên diễn đàn Quốc hội – được báo chí trích lời cho biết: “Dưới góc độ một người nghiên cứu lịch sử, tôi thấy vụ án này phản ảnh bước chuyển đổi của xã hội, chuyển đổi về những giá trị và đương nhiên trong đó cốt lõi là luật pháp. Tôi rất chú ý đến chi tiết chưa được kiểm chứng là đằng sau vụ án này có yếu tố đất đai. Tôi không bình luận trực tiếp về những thông tin thành phố Cần Thơ muốn lấy đất Nông trường Sông Hậu để làm khu đô thị, nhưng tôi thấy trong xã hội hiện nay, vấn đề đất đai luôn luôn có mặt đằng sau mọi động thái xã hội”.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s