Lăng Lê Văn Duyệt

Lăng Lê Văn Duyệt tọa lạc tại số 126 đường Đinh Tiên Hoàng, phường 1, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Khu lăng mộ nằm gọn giữa giao điểm của bốn con đường: Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức, Vũ Tùng, trên một gò đất cao hình lưng rùa thoai thoải về phía cầu Bông.

Theo khoa địa lý Đông phương (thuật phong thủy) đây là vị thế nằm ngay ‘long mạch’ hợp với ‘địa linh nhân kiệt’ tài lộc đời đời vĩnh tế và sẽ có ảnh hưởng tốt cho sự an lạc của cư dân trong vùng.

Khuôn viên lăng hiện nay còn lại 18.500m2, được giới hạn với bên ngoài bằng bức tường có chu vi 500m, cao 1,2m. Bức tường được trổ 4 cổng ra vào theo 4 hướng. Cổng Tam quan được đặt ở hướng Nam, mở ra đường Vũ Tùng, trên cổng đắp nổi hàng đại tự bằng chữ Hán ‘Thượng công miếu’. Cổng Tam quan của lăng đã có lúc được chọn là biểu tượng của vùng Sài Gòn – Gia Định xưa. Lăng mộ và miếu thờ Tả quân Lê Văn Duyệt được xây dựng trên một trục chính từ cổng Tam quan vào, gồm: Nhà bia – Lăng mộ – Linh miếu.

Cổng lăng Lê Văn Duyệt


Nhà bia được xây dựng như một ngôi điện nhỏ, tường gạch, mái lợp ngói âm dương. Văn bia do Hoàng Cao Khải viết năm Giáp Ngọ 1894. Nội dung bia ca tụng công đức Lê Văn Duyệt đối với triều đình và nhân dân. Phần mộ gồm hai ngôi mộ: Tả quân và vợ ông, bà Đỗ Thị Phận. Hai ngôi mộ đặt song song và được cấu tạo giống nhau, có hình dạng như nửa quả trứng ngỗng xẻ theo chiều dọc, úp trên bệ hình chữ nhật. Trước mộ có một sân nhỏ để làm lễ. Bao quanh mộ là một bức tường bằng đá ong hình chữ nhật, thông ra tận sân đốt nhang đèn.

Cách khu lăng mộ một khoảng sân rộng đến khu vực “Thượng công linh miếu”, nơi diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân trong việc thờ cúng Lê Văn Duyệt. Bố cục của “Thượng công linh miếu” bao gồm tiền điện, trung điện và chánh điện. Mỗi gian điện thờ cách nhau bằng một sân thiên tỉnh. Đối xứng hai bên trục nhà chính là hai dãy Đông lang và Tây lang. Ở góc Tây Bắc của khuôn viên lăng mộ còn có một phường môn che chiếc đỉnh Hòa Bình được đắp bằng xi-măng.

Trong những công trình kiến trúc của lăng, được xây dựng sớm nhất là phần mộ. Lê Văn Duyệt mất tại Gia Định ngày 30 tháng Bảy âm lịch, năm Nhâm Thìn (20/8/1832), mộ được đặt tại làng Bình Hòa – Gia Định.

Năm 1835 do tư hiềm cũ và nhân cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (con nuôi Lê Văn Duyệt), vua Minh Mạng đã ra chỉ dụ san bằng mộ, dựng bia đá lên trên, trên bia đá khắc 8 chữ: “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xử” (chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội). Mộ Lê Văn Duyệt bị cuốc phẳng, xiềng xích sắt.

Năm 1841, Thiệu Trị lên ngôi vua, cho xóa bỏ xiềng xích, đắp lại mộ. Đến đời vua Tự Đức, mộ được xây lại, đồng thời miếu thờ cũng được xây cất. Năm 1914, “Hội Thượng Công quý tế” được thành lập để đặc trách việc tế tựu và kiến thiết lăng miếu. Từ đó tới nay lăng miếu thờ được trùng tu và xây dựng thêm qua nhiều thời kỳ:

• Năm 1925 trùng tu, mở rộng chánh điện và hậu cung;
• Năm 1937 trùng tu, xây dựng thêm tiền điện, Đông lang và Tây lang;
• Năm 1948 xây vòng thành bao quanh miếu;
• Năm 1949 xây khách đường và cổng Tam quan;
• Năm 1954 xây đỉnh Hòa Bình;
• Năm 1964 xây cất nhà kho (nhà hát tuồng ngày nay) và phường môn che đỉnh Hòa Bình;
• Năm 1973 xây thêm chánh điện mới;
• Lần sửa chữa trùng tu mới nhất là năm 1994.

Trong dân gian và sử sách truyền lại, cuộc đời và sự nghiệp của Tả quân Lê Văn Duyệt đã trở thành huyền thoại pha trộn giữa ảo và thực. Ông sinh năm 1763 tại tổng Long Hưng, tỉnh Định Tường (Nay là huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Theo phò Nguyễn Aánh từ những năm còn bôn ba chạy trốn quân Tây Sơn. Được phong nhiều chức tước, có quyền sinh, quyền sát trong tay, được phép “tiền trảm hậu tấu”. Đã từng làm tổng trấn Gia Định hai lần (lần thứ nhất từ 1813 – 1816, lần thứ hai từ 1820 – 1832) và là vị tổng trấn cuối cùng của thành Gia Định.

Tượng Lê Văn Duyệt


Ông là người có khả năng về quân sự lẫn chính trị, ngoại giao, là một vị quan cai trị nghiêm khắc, thanh liêm. Dưới thời ông làm tổng trấn, đất Gia Định thái bình, dân chúng yên ổn làm ăn, kinh tế phát đạt. Đặc biệt ông có nhiều ưu đãi cho dân Hoa kiều nhập cư vào đất Gia Định và tạo điều kiện cho họ làm ăn, buôn bán. Ông ham mê võ nghệ, thích đá gà, đấu hổ, đấu voi…

Từ khi Lê Văn Duyệt mất, trong dân gian đã xem ông như một vị thần. Vì vậy việc thờ cúng và tế lễ ông tại lăng mang nghi thức thờ thần và tế thần. Chánh điện được bài trí gần như đình làng Nam Bộ. Bài vị, chân dung Lê Văn Duyệt được đặt chính giữa chánh điện. Tả ban đặt bài vị thờ Đức Kinh lược Phan Thanh Giản (một văn thần). Hữu ban đặt bài vị thờ Đức Thiếu phó Lê Chất (một vị quan võ đã cùng Lê Văn Duyệt “vào sinh ra tử” giúp Gia Long). Hai bên còn đặt một số bàn thờ nhỏ, thờ chư vị thánh thần, thờ tiền hiền, hậu hiền, thờ “anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân”.

Xuất phát từ quan niệm “sự vong như sự tồn” (thờ người đã khuất như khi người đó sống) nên cách bài trí ngoài các đồ thờ tự, còn đầy đủ các đồ nghi tượng thể hiện uy quyền, phẩm hàm của Lê Văn Duyệt: Biển vía ghi tước hiệu, tàn lọng, quạt vả, lỗ bộ, bát bảo, bạch mã thái giám, ngựa Xích Thố, kiệu, võng… Nghi lễ cúng tại lăng pha trộn giữa nghi lễ thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Việt với nghi lễ cúng thần.

Lễ vật dâng cúng thường là mâm cỗ, gồm nhiều món giống như mâm cơm cúng giỗ ông bà. Nhưng vào dịp lễ húy kỵ, lễ dựng nêu tại lăng tổ chức cả lễ kỳ yên với tục lệ xây chầu hát bội giống như cúng thần tại đình làng. Ngoài các kỳ lễ chính, hàng ngày cửa lăng đều rộng mở để đón khách thập phương tới lễ bái.

Hơn một thế kỷ qua, lăng miếu Lê Văn Duyệt đã được xây dựng và hoàn thiện như ngày nay. Đây là một công trình kiến trúc thể hiện tài năng và quá trình sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động. Thể hiện qua nghệ thuật kiến trúc (mang dấu ấn của kiến trúc lăng mộ cố đô Huế với những tầng mái “trùng thiềm điệp ốc”, với kỹ thuật kết nối khung nhà bằng các lỗ mộng).

Qua kỹ thuật thể hiện các đồ án trang trí trong lăng bằng nhiều phương pháp: kỹ thuật chạm khắc gỗ với nghệ thuật chạm lộng, chạm thủng, chạm nổi, chạm chìm đã tạo ra những tác phẩm chạm khắc gỗ đặc sắc (4 cột trụ chạm rồng ở trung điện, bao lam, câu đối, khám thờ…). Kỹ thuật tạc, chạm khắc đá (thể hiện ở các chân cột, nhà bia, bia…). Kỹ thuật khảm sành sứ – gạch trang trí cho các đồ án lân, li, qui, phụng…

Công trình thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, cùng với những ý niệm của Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo đã được Việt hóa một cách chọn lọc. Đặc biệt những hình tượng dân dã, gần gũi với cuộc sống của nhân dân Nam Bộ như: khóm chuối, trái măng cụt, bí, voi, ngựa, cua, dơi… cũng được thể hiện trong các đồ án trang trí tại lăng.

Chính vì những giá trị lịch sử và nghệ thuật đó lăng Lê Văn Duyệt đã được Bộ Văn hóa công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật theo quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16/11/1988.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s