ĐÌNH THẮNG TAM

Trên khắp đất nước Việt Nam, ở các làng xã ngày xưa đều có Đình thần. Đình thần là nơi thờ phụng Thành Hoàng – người có công khai phá dựng làng, dựng nước tại địa bàn sở tại, tiền hiền và hậu hiền – những người tiếp nối đến mở đất dựng làng, dựng nước.

Đình làng còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hoá và tinh thần của cư dân trong một cộng đồng được xác định bởi một đơn vị hành chính cơ sở. Trải qua thời gian tồn tại lâu dài, do những biến động của lịch sử, một số làng, xã đã không còn đình làng. Tại ba ngôi làng tiền thân của Vũng Tàu còn ba ngôi đình. Có thể nói đình làng Thắng Tam là biểu hiện đặc sắc của đặc trưng văn hoá độc đáo của ngư dân miền biển – Vừa có những đặc điểm chung của đình làng Việt Nam, vừa có những nét riêng trong thờ cúng và sinh hoạt văn hoá – tín ngưỡng.

 

Theo truyền ngôn, Đình Thần Thắng Tam được xây dựng từ đời vua Minh Mạng (1820 – 1840). Hiện nay, đình thần còn lưu giữ 2 đạo sắc của nhà Nguyễn phong cho các vị thần được thờ tại đình là Thiên Y A Na, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Thượng Đẳng Thần, Cá Ông, Thuỷ Long Thần Nữ… Theo truyền thuyết Đình Thần Thắng Tam thờ chung cả ba người đã có công xây dựng nên ba làng thắng ở Vũng Tàu, đó là Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Chuyện kể rằng: thuở ấy hải tặc Mã Lai và Tàu Ô thường hay đột nhập cửa sông Bến Nghé đón đường cướp bóc tiền bạc, hàng hoá, bắt cóc người trên các thuyền buôn. Để bảo vệ thương thuyền của người Việt, vua Gia Long liền phái ba đội quân đi trên ba chiếc thuyền. Mỗi đội quân do một viên xuất đội thống lĩnh. Đổ bộ lên bán đảo Vũng tàu, họ đã lập trại và đặt tên cho doanh trại, đồn binh của mình là Phước Thắng. Ba đội quân vừa làm việc nước – bảo vệ sự thanh bình của bờ biển cửa ngõ, vừa khai hoang lập làng, làm ăn sinh sống. Trong vòng mấy năm, phần lớn hải tặc Mã Lai và Tàu Ô bị diệt trừ. Số ít còn lại chẳng dám sách nhiễu thương thuyền nữa. Năm 1822, Minh Mạng ban chiếu khen thưởng chức tước, phẩm hàm cho đội quân cho giải ngũ và ban thưởng phần đất mà họ có công khai phá. Từ ba vị trí của ba đội quân dần dần hình thành nên ba làng thắng. Làng thứ nhất gọi là làng Thắng Nhất do Ông cai đội Phạm Văn Dinh chỉ huy. Làng Thắng Nhì do Ông cai đội Lê Văn Lộc chỉ huy. Làng Thắng Tam do Ông cai đội Ngô Văn Huyền chỉ huy. Dân các làng Thắng vừa làm ăn sinh sống vừa bảo vệ an ninh bờ biển. Sau khi ba đội Ông chết, Triều đình ban sắc phong cho ba ông.

Đình thần Thắng Tam lúc đầu xây dựng chỉ là nhà tranh vách lá. Năm 1835 mái được lợp ngói, năm 1965 được trùng tu mới như hiện nay. Kiến trúc Đình Thần Thắng Tam có Cổng Tam Quan, Nhà Tiền Hiền, Hội Trường, Ngôi Đình Trung, sân khấu võ ca. Trong đình bài trí nhiều đồ lễ, chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đình thần thắng tam kiến trúc theo lối nối tiếp. Đó là một nhà gồm bốn ngôi nhà nối liền nhau bằng một lối đi bên hông: Tiền Hiền – Hội Trường – Đình Trung – sân khấu võ ca. Ngôi tiền hiền được lợp bằng ngói âm dương, trên mái có hình “Lưỡng long chầu nguyệt” đắp nổi. Đầu các đòn tay, xà gồ, cột đều chạm khắc hình rồng. Nội thất nhà Tiền Hiền bày bốn bàn thờ: bàn thờ thổ công, Tiền Hiền và Hậu Hiền, Tiền Vãng và Hậu Vãng ( tức thờ thổ công, tiền hiền và hậu hiền, dân làng đến trước đến sau)

Hội trường là nơi sinh hoạt của Hội viên thuộc hội đình ( hội đình thắng tam hiện nay có hơn 500 hội viên, có ban hương chức thôn hội chia làm 10 bậc từ thấp đến cao).
Tiếp sau phần hội trường là ngôi đình trung có cấu trúc tương tự ngôi tiền hiền. Ngôi đình trung bài trí 10 bàn thờ theo lối 3-4-3: thờ Thần Nông, Thiên Y A Na, Ngũ Đức, Thánh Phi, Hậu Hiền – Thần, Hội Đồng, Phụ Án Và Tiền Án – Cao Các, Thiên Sư, Ngũ Thơ, Ngũ Tự và Tiền Hiền ( bốn bàn thờ phía giữa nằm vượt lên phía trước). Khác với nhiều nơi, thần nông được thờ ngoài trời, ở đình thần thắng tam, thần nông được thờ bên trong.

Sân khấu võ ca là nơi diễn tuồng, hát bội khi đình thần có lễ.
Ngoài những giá trị mang ý nghĩa lịch sử, văn hoá, đình thần thắng tam còn lưu giữ những lễ hội in đậm văn hoá dân gian và bản sắc dân tộc. Hàng năm Đình Thần Thắng Tam đều có tổ chức lễ hội cầu an trong 4 ngày, từ 17 đến 20 tháng 2 âm lịch. Đây là thời điểm kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá. Việc tổ chức cúng tế lễ vật tế thần, cách dâng hương quỳ lạy, chiêng trống kèn nhạc … của lễ hội cầu kỳ và nhiều vẻ. Lại có những tục kiêng kỵ trong tế lễ được lưu truyền, gìn giữ và chấp hành đầy đủ từ xưa đến nay. Chẳng hạn, người có tang không được trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ trong nghi lễ, heo dùng để tế lễ phải có bộ lông thuần màu…

Trong quá trình lễ hội của đình, người ta thường tổ chức nhiều trò vui giải trí như múa lân, hát bội … đình thần thức suốt đêm, tiếng trống, tiếng nhạc tiếng hát làm huyên náo, rộn ràng cả một vùng suốt mấy ngày đêm.

Lễ hội đình Thần Thắng Tam là một hoạt động văn hoá đặc sắc của ngư dân miền biển Vũng Tàu. Du khách viếng thăm đình Thần Thắng Tam vào dịp có lễ hội, hẳn đó là chuyến tham quan thú vị và sinh động nhất trong chuyến du lịch Vũng Tàu.

MIẾU BÀ

Miếu Bà nằm bên trái khu Đình Thần Thắng Tam, còn có tên Miếu Ngũ Hành. Tên gọi ấy phản ánh các đối tượng được thờ cúng trong miếu.

Tương truyền miếu bà được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Lúc đầu nó chỉ là ngôi nhà tranh vách do ngư dân Thắng Tam xây dựng để thờ Ngũ Hành, tức năm yếu tố vật chất: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ (theo tư tưởng triết học Trung Quốc mà Việt nam ảnh hưởng). Ngoài Ngũ Hành, Miếu Bà còn thờ hai vị hộ quốc được vua phong Thượng Đẳng Thần là bà Thiên Y-A-Na và Thuỷ Long Thần Nữ. Điều này chứng tỏ tính riêng của ngôi miếu khi chủ nhân của nó là những người sống bằng nghệ chài lưới trên biển.

Miếu Bà được kiến trúc theo lối một gian hai chái. Trên mái có hình Lưỡng Long Vhầu Nguyệt. Bên trong có 8 bàn thờ. Bàn giữa chính điện thờ 5 bà Ngũ Hành và hai vị Thượng Đẳng Thần. Trên có bày tượng 5 Bà và bộ ngũ sự, hai bên có thờ 5 Cô, 5 Cậu, hai vị Thượng Đẳng thần không có tượng. Tiếp theo bên trái là bàn thờ Quan Công, Quan Bình và Châu Xương là những bậc trung nghĩa và sẵn sàng cứu hộ những người đi biển khi họ gặp chuyện không may. Bên phải là bàn thờ Ông Địa – Thổ Công. Phía sau là bàn thờ Tiền Hiền và bàn thờ những người giàu lòng nhân ái, độ lượng trong làng.

Hàng năm, Miếu Bà lễ hội vào ba ngày từ 16 đến 18 tháng 10 âm lịch. Quản lý miếu và tổ chức điều hành lễ hội là những người trong ban điều hành. Hội viên của Miếu bà chỉ giành cho nữ giới. Ban điều hành cũng chỉ do các bà phụ trách (ba bà cố vấn, sáu bà trong ban điều hành với 160 hội viên).

Lễ hội Miếu Bà là ngày sôi động và linh đình. Ngoài việc cúng tế thần linh người ta còn tổ chức múa lân, các trò vui, ban đêm tổ chức hát tuồng. Vốn có tiếng hiển linh, vào các ngày hội người từ thập phương về hành hương, phụng cúng rất đông. Miếu bà và lễ hội Miếu Bà là nét đặc sắc của văn hoá dân cư ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu.

LĂNG CÁ ÔNG

Nằm trong khu Đình Thần Thắng Tam phía bên phải. Lăng Cá Ông được xây dựng cùng thờ kỳ với Miếu Bà, nghĩa là khoảng cuối thế kỷ XIX. Hiện nay trong lăng còn bảo tồn xương Cá Ông khổng lồ do ngư dân Vũng Tàu vớt được từ hơn 100 năm trước đây.
Truyền thuyết về Cá Ông hiện còn lưu truyền ở Vũng Tàu và từ rất sớm đã được chép trong thư tịch cổ, rằng: Cách đây hơn 100 năm (giữa thế kỷ 19) có một đầu cá to lớn trôi dạt vào bãi Tầm Dương. Đầu cá lớn đến nỗi ngư dân không thể đưa vào bờ được. Họ phải xóc cờ rào lại chờ cho thịt rữa sạch rồi tháo từng khúc xương đưa vào miếu thờ.

Lăng Cá ông Thắng Tam có tới ba sắc phong do vua ban tặng. Vua Thiệu Trị ban hai đạo sắc vào năm thứ năm (1846), Vua Tự Đức ban cho đạo sắc vào năm thứ ba (1850). Hiện nay vào ngày 16/8 âm lịch, cứ ba năm một lần những người quản lý Lăng được gọi là hội “Lương hữu Vạn Lạch” lấy một xương trong Lăng đem thờ trong ba tủ kính. Vào ngày Vía Cá ông, ngư dân và khách thập phương tụ hội vê đông vui nhộn nhịp. Ngời ta đến đây cầu mong sự bình yên may mắn trong chuyến đi biển, xin xăm báo trước điều tốt lành, rủi ro và xem hát, vui chơi giải trí…

Lăng Cá ông có kiến trúc theo lối cổ xưa. Bên trong bày ba tủ kính lớn đựng xương tương xứng với nó là ba bàn thờ. Hai bên tả, hữu có thêm hai bàn thờ của Bà Sáu (Thần Rùa) và tổ nhạc. Ngư dân Vũng Tàu quan niệm rằng mỗi khi có Cá ông chết tấp vào bờ, người nào trông thấy đầu tiên thì được xem như con trưởng của Cá ông. Khi làm lễ an táng, người đó phải chịu tang và thực hiện các nghi lễ tang ma như là đám cho cha đẻ mình vậy.

Lễ hội “Nam Hải Đại tướng quân” – Danh hiệu Cá ông do vua Thiệu Trị ban tặng được tổ chức trùng với ngày Vía (ngày mất) của cá. Lễ hội kéo dài trong ba ngày từ 16 đến 18/8 âm lịch hàng năm, gồm có : Lễ cúng ông, lễ nghinh ông (đón cá) gồm nhiều ghe thuyền trang trí lộng lẫy, thắp đèn sáng trưng chạy vòng biểu diễn ngoài biển. Những hình thức tế lễ Cá ông mang đậm màu sắc riêng của cư dân miền biển, nhưng trong lễ hội người ta cũng dành một buổi cúng Tiền Hiền, một buổi tế lễ thần linh – như việc tổ chức cúng tế trong đình làng …

Khu di tích Đình Thần Thắng Tam, bao gồm cả Miếu Bà và Lăng Cá ông ẩn chứa những giá trị văn hóa quý báu của cư dân miền biển Vũng Tàu. Những nét đẹp về phong tục tập quán dường như được “hóa thân” trong từng chi tiết kiến trúc của di tích, của phong cách sinh hoạt tổ chức lễ hội. Khu di tích Đình Thần Thắng Tam và những lễ hội liên quan của nó đã bảo lưu được những di sản qúy giá. Hiện nay, không kể các ngày lễ hội là những ngày có rất đông du khách hành hương mà những ngày thường khu Đình Thần Thắng Tam cũng chào đón rất nhiêu khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm viếng.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s